Kỷ vật một chiều mưa

Dịp nghỉ phép ấy, tôi quyết tâm tìm bằng được người nữ dân quân có nhiều thành tích trong thời kỳ chống Mỹ mà tôi rất khâm phục nhưng đã nhiều lần tìm song nhưng chưa gặp. Sau những ngày dò hỏi biết chị hiện sống ở một xóm nhỏ của huyện X, tôi lặn lội đến tận nhà để viết bài về chị. Tất nhiên rồi tôi làm điều đó hoàn toàn vì lòng kính trọng đối với chị, với quá khứ đầy gian khổ mà hào hùng của đất nước.
Trong buổi gặp mặt có cán bộ địa phương và một người đàn ông – hàng xóm của chị. Khi tôi kết thúc cuộc phỏng vấn anh xúc động nói những lời cảm ơn vì tôi – một người của thế hệ sau – đã không quên quá khứ bằng việc nhắc gọi lại một tấm gương mà tưởng như năm tháng đã lãng quên. Rồi mọi người tiễn chân tôi ra tận đường lớn. Nhưng đúng lúc tôi bắt đầu quay xe thì trời đột ngột đỗ mưa tầm tã. Chờ mãi không ngớt tôi quyết định cứ về khi bóng tối bắt đầu chạng vạng. Bỗng người đàn ông nọ lại bất ngờ xuất hiện với một chiếc áo mưa màu tím hoa mua:
– Chị mặc áo mưa này vào hãy về kẻo ướt hết!
– Tôi vui mừng, vừa lung túng:
– Em sẽ gửi trả anh vào chuyến công tác sau vậy!
– Ồ không, chị cứ cầm lấy mà dùng!
Thấy tôi long ngóng với chiếc áo mưa sự nhào lộn của gió, anh lại ân cần:
– Chị để tôi giúp!
Và anh giũ chiếc áo mưa ra, giữ x echo tôi mặc áo vào người. Tôi không thể nói gì ngoài lời cảm ơn về sự chu đáo của anh rồi vội vã ra về vì đường còn xa lắm!
Chia tay anh, giữa lúc ánh sáng ban ngày đã tắt, trong cơn mưa xối xả cái lạnh lùng cũng ngấm mà sao tôi thấy lòng ấm lạ.
Với người làm báo chúng tôi khó khăn vất vả là chuyện thường ngày nhưng chỉ cần nhận được sự cảm thông sẻ chia ở người khác là mọi gian khổ chúng tôi đều vượt qua được hết. Vì thế chuyến công tác ấy với tôi trở thành một kỷ niệm đẹp. Tôi không quên được cái cảm giác được chở che giữa nơi đất là, khi bóng tối bắt đầu chạm đến mà cử chỉ ân cần của người đàn ông xa lạ mang lại. Đến lúc này tôi vẫn không biết tên người đã tặng tôi tấm áo mưa trong chiều tối đó nhưng kỷ vật thì tôi còn giữ lại. Để mỗi lần nhìn đến lại không quên rằng đã có một ngày thật tốt đẹp ở trong đời.
Đã vài năm trôi qua tôi chưa có dịp trở về nơi ấy. Song, tôi vẫn hy vọng gặp lại người đàn ông nọ. Tôi muốn gặp lại chẳng phải để cảm ơn mà chỉ để tự nhắc với mình rằng: Xung quanh ta luôn có biết bao người tốt và mình làm sao để luôn xứng đáng với tấm lòng tình cảm của họ.
Dưới đây xin trích ít đoạn trong Tây hành nhật ký.
“Chúng tôi chia nhau ngồi thuyền cúng đến. Quan ba Căng – tôm thuyền trưởng thuyền Ế – cô ( É cho = tiếng vang), thuyền này do quyền soái Phú Lăng Sa là quan sáu Gia – lăng – đi – y phái đến. Thuyền này thân bọc sắt dài 15 trượng rộng 2 trượng cao 3 trượng bốn tầng lót ván, ở giữa trước và sau có 3 cột buồm, 2 ống khói cách nhau chừng 5 thước); hai bánh xe hướng ra ngoài. Ở giữa đặt nồi máy cao, thuyền lửa có hai loại máy hơi nước. Thuyền có 3 cỗ đại bác và hơn trăm khẩu sung trườn. Quan trọng thuyền có 5 người, một quan hai, một quan , hai quan một, một quan thầy thuốc. Chúng tôi ở mỗi người một phòng trên tầng nhì, có ghế nằm có đệm có vải phủ. Giờ Mùi thuyền đốt lửa ra khơi.
Và đây là đoạn tả sứ bộ trên đất Pháp
“Chúng tôi đến, viên quan coi việc dân hộ và viên lãnh sự thành này mời chúng tôi đi xem hát (…). Đó là họ vâng theo lệnh quốc trưởng của họ có lòng kính trọng Đức Hoàng đế nước Đại Nam. Rạp hát của họ đều làm thành một sở riêng. Ba mặt: trước, bên trái, bên phải xây bảy tầng kiểu vòng cung, chia làm hơn 20 gian, trong đó sắp ghế để ngồi xem, mặt trong cũng là sân khấu. Trên màn trướng (ý nói phông hậu)vẽ những cảnh trời mây, non nước, hoa lá, cỏ cây đủ màu sắc. Trước sân khấu là dàn nhạc, tiếp đến sắp ghế ngồi. Cứ hát hết một hồi lại hạ màn để dọn dẹp sân khấu; xong rung chuông làm hiệu và kèn trống nổi rập lên , tức thì màn lại kéo lên; ca đồng vũ nữ lên sân khấu nhảy múa quay tít ngả nghiêng, đàn sáo vang dậy. Cốt truyện diễn trên sân khấu phần lớn ở những việc gần đây như chuyện quan huyện có ngụ ý giả làm ni cô để gần con gái, tóm lại là những chuyện có ngụ ý chế giễu; có khi diễn trò cưỡi ngựa hoặc đánh trận…
Người xem (mỗi buổi chiều) đông đến vài nghìn, ngồi trên một thứ ván hẹp ke liền nhau, tùy theo chỗ ngồi mà trả tiền. Khi muốn khen chỗ hay, tán thưởng cái lạ thì vỗ tay để thỏa sự vui thích chứ không làm ồn. Trong rạp hát, người ta theo từng hồi mà bán tờ chương trình trong đó ghi đầy đủ sự tích biểu diễn; người xem mua mỗi tờ giá chừng năm, sáu mạch (1/10 quan). Đến khuya cũng có bàn trà bánh, chỉ cấm hút thuốc thôi, hỏi thì họ nói rằng trong rạp cấm như vậy là vì tính phụ nữ không thích thuốc lá (tục người ta trọng phụ nữ, cho nên tính phụ nữ không thích thuốc lá thì chồng ở nhà mỗi khi hút thuốc cũng phải đến phòng khác. Trong rạp hát hoặc trên đường phố, trên xe cộ, khi vợ chồng cầm tay nhau đi với nhau thì đàn ông không dám hút thuốc)”.
Thanh Hằng – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Số 25 (190) – Năm 2001

Lối thoát cho vấn đề nhân lực

Du lịch Lào Cai lối thoát cho vấn đề nhân lực
Theo kết quả điều tra nguồn nhân lực trong lĩnh vực du lịch Lào Cai thì toàn tỉnh có khoảng 520 cán bộ, công chức, người lao động từ đây gọi chung là người lao động, hoạt động trong các cơ quan quản lý nhà nước và tham gia ngành kinh doanh trong các doanh nghiệp du lịch, nhà nghỉ, trên địa bàn. Trong đó có 254 lao động nam chiếm 48,85% và 266 lao động nữ chiếm 51,15%, số làm du lịch dưới 3 năm có 195 người chiếm 37,5%, số từ 3 đến 10 năm có trên 323 người chiếm 62,12% và trên 10 năm có 2 người chiếm 0,38%.
Có tới phân nữa số lao động chưa học hết trung học phổ thông hoặc nếu có thì cũng chưa qua đào tạo ở các trường dạy nghề. Số có trình độ đại học chỉ chiếm 1,55%, số người có chứng chỉ bằng C và có trình độ đại học ngoại ngữ chỉ chiếm 6,78%. Trong khi đó lao động đã qua đào tạo thì phần nhiều là không có trình độ chuyên ngành du lịch hoặc qua các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ du lịch. Trình độ người lao động bất cập như trên thực sự là khó khăn lớn cho ngành du lịch Lào Cai trong việc nâng cao chất lượng phục vụ, đáp ứng nhu cầu đa dạng và làm vừa lòng khách du lịch.
Một thực tế đáng ghi nhận nữa là trong số 60 hướng dẫn viên của các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn tỉnh và các hướng dẫn viên địa phương tại các khu du lịch Sapa, Bắc Hà hiện nay thì chỉ có 9 người đủ tiêu chuẩn được tổng cục du lịch chấp nhận cấp thẻ hướng dẫn viên du lịch. Trong điều kiện khách du lịch đến Lào Cai ngày càng đông, đặc biệt là khách quốc tế thì số lượng đội ngũ hướng dẫn viên trình độ còn hạn chế như trên thật khó có thể đáp ứng được nhu cầu của khách tham quan
Từ thực tế trên, ngành du lịch Lào Cai đã phối hợp với các trường du lịch mở 3 lớp đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ du lịch cho 150 học sinh trên địa bàn toàn tỉnh, trong đó 1 lớp học 12 tháng về nghiệp vụ nấu ăn, buồng, bàn, bar, lễ tân bà 2 lớp 3 tháng học về nghiệp vụ hướng dẫn viên du lịch. Trong chương trình hành động du lịch của tỉnh trong giai đoạn 2001 đến 2005 thì tăng cường công tác đào tạo nguồn nhân lực cho du lịch Lào Cai là một nội dung quan trọng để từng bước tiêu chuẩn hoá đội ngũ công chức, cán bộ quản lý, nhân viên trong các cơ quan quản lý của Nhà nước và các đoan vị kinh doanh du lịch, các khách sạn nhà nghỉ trong toàn tỉnh.
Trong giai đoạn này, để tăng cường công tác đào tạo nguồn nhân lực, trước mắt ngành du lịch Lào Cai xác định tập trung vào một số giải pháp cơ bản. đó là, phân phối với trường trung học nghiệp vụ du lịch thường xuyên mở rộng các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ du lịch buồng, bàn, bar, lễ tân, hướng dẫn viên… cho đội ngũ lao động chưa học qua các lớp du lịch trong toàn ngành, khuyến khích các doanh nghiệp du lịch trong tỉnh tích cực, quan tâm hơn nữa đến công tác đào tạo, nâng cao kiến thức, trình độ nghiệp vụ chuyên môn của các cán bộ quản lý, người lao động trong đơn vị mình thông qua các hình thức đào tạo đại học tại chức du lịch đối với các cán bộ quản lý du lịch, cử người lao động đi học các lớp bồi dưỡng du lịch của các trường đào tạo du lịch thuộc tổng cục du lịch hoặc các khoa du lịch thuộc một số trường như: Đại học Kinh tế quốc dân, Đại học Văn hóa, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn… xem xét kỹ lưỡng khi tuyển chọn việc người lao động và các doanh nghiệp du lịch, ưu tiên chọn những người đã tốt nghiệp đại học du lịch, hoặc chí ít cũng đã qua các trường trung học du lịch, riêng với đội ngũ cán bộ công chức hoạt động trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về du lịch thì tiêu chuẩn tuyển dụng nhất thiết phải hướng vào đối tượng sinh viên tốt nghiệp từ các trường đại học du lịch trong cả nước, đồng thời phải tiêu chuẩn hóa đội ngũ hướng dẫn viên du lịch như nói thông thạo ngoại ngữ, đã học qua các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ hướng dẫn, ngoại hình tốt, có kinh nghiệm trong công tác.
Thành phố Hồ Chí Minh sẽ sử dụng khinh khí cầu phục vụ khách du lịch.
Đó là nội dung sự án của tổng công ty Du lịch Sài Gòn vừa trình lên Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh. Nếu được phê chuẩn, khinh khí cầu sẽ được hoạt động trên địa bàn quận 7 và Cần Giờ phục vụ du khách trong việc tham quan khu rừng sinh thái rừng ngập mặn Cần Giờ. Trước mắt Sài Gòn Tourist sẽ mua khinh khí cầu của Úc và công suất có thể chứ đến 12 người, bay ở độ cao 300 – 1000 mét so với mặt đất với giá khoảng 60.000 USD/ chiếc.
Thời gian đầu, ngành du lịch thành phố Hồ Chí Minh sẽ thuê chuyên gia nước ngoài, sau đó sẽ có kế hoạch huấn luyện cho các nhân viên trong nước điều khiển. Ngoài ra, để đảm bảo an toàn cho công tác quốc phòng và các chuyến bay của ngành hàng không, lãnh đạo ngành du lịch thành phố Hồ Chí Minh hiện đang thực hiện xúc tiến làm việc với các cơ quan chức năng trong việc đề ra những phương án phối hợp đồng bộ để tránh những trường hợp đáng tiếc xảy ra.
Nguyễn Đình Dũng – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 23 (188) 2001

Hà Nội có bao nhiêu chùa mang tên bà?

Làm hướng dẫn viên du lịch là một nghề không đơn giản. Bởi người hướng dẫn không chỉ cần biết ngoại ngữ mà còn phải am hiểu văn hóa sâu sắc. Mỗi chuyến đi của họ thường gắn liền với những kỷ niệm đáng nhớ.
Chị Phạm Thị Hương – hướng dẫn viên của Công ty Du lịch Xanh kể lại một kỷ niệm:
Ngày mới đi làm, tôi là hướng dẫn viên cho các đoàn khách đi tour tại Hà Nội. Một lần, đưa đoàn khách Úc đi thăm các chùa chiền, bà Emili – trưởng đoàn, hỏi tôi: “Nghe nói ở Hà Nội có 6 ngôi chùa mang tên các bà?”. Chưa hoàn hồn với câu hỏi tưởng chừng đơn giản thì tôi đã nhận được một loạt câu, nào là: “Các ngôi chùa ấy ở đâu? Sự tích thế nào?…” Tôi lúng túng chưa biết trả lời ra sao thì được cô bạn đồng nghiệp nhanh trí giúp đỡ.
Đúng là Hà Nội có 6 chùa mang tên các bà, đó là “Chùa Bà Ngô, chùa Bà Nành, chùa Bà Đá, chùa Bà Già, chùa Bà Đanh, chùa Bà Móc.
Chùa Bà Ngô nay ở số nhà 128, phố Nguyễn Khuyến, quận Đống Đa. Tên chữ Hán là Ngọc Hồ tự. Tương truyền, chùa do một bà họ Ngô xây dựng nên, nhưng cũng có tích kể, người xây chùa là một bà có chồng người nước Ngô (tức Trung Quốc). Hiện nay chưa rõ tích nào đúng.
Chùa Bà Nành, nay mang biển số nhà 154 phố Nguyễn Khuyến, quận Đống Đa. Tương truyền là nhà của một bà bán bánh, bán chè đậu nành, phúc hậu, hay giúp người nghèo. Khi về già, bà đã bỏ tất cả tiền nong tích góp ra xây ngay trên đất nhà mình một ngôi chùa rồi xuất gia tu hành. Sau khi bà mất, dân làng đắp tượng bà và đặt trên tấm đá mà bà vẫn dùng bán hàng. Hiện tượng và bàn đá đó vẫn còn. Dân gọi đó là chùa Bà Nành. Tên chữ là Tiên Phúc tự.
Chùa Bà Đá, nay thuộc số nhà 3 phố Nhà Thờ, quận Hoàn Kiếm. Theo lịch sử, chùa được kể như sau: đời Lê Thánh Tông (1460 – 1497) ở làng Báo Thiên (tức khu vực Nhà thờ Lớn Hà Nội ngày nay) có một người đào được một pho tượng phật bà bằng đá, bèn dựng một ngôi chùa nhỏ để thờ ngay tại nơi đào được. Sau dân làng thấy linh thiêng mới góp công, góp của xây thành chùa lớn, đón sư về trụ trì. Vì vậy chùa có tên là chùa Bà Đá, tên chữ là Linh Quang tự. Pho tượng đá đã bị mất trong thời Pháp thuộc.
Chùa Bà Già ở làng Phú Gia, phường Phú Thượng, quận Tây Hồ. Chùa có một lai lịch khá cổ. Nguyên Phú Gia, tên nôm là làng Gạ, là nơi các vua đời Trần định cư. Một bộ phận người Chăm được đưa từ phía Nam ra, đã dựng một ngôi chùa mà sử Toàn thư đã phiên âm là Đa-da-li. Thái úy Trần Nhật Duật (1254-1330) thường tới đây đàm đạo về Phật giáo với vị sư người Chăm trụ trì. Có thể cái tên Bà Già là từ Đa-da-li mà ra. Nay trong chùa còn bức hoành phi cổ khắc 3 chữ Bà Già tự.
Chùa Bà Đanh cũng là một ngôi chùa dành cho người Chăm. Tây Hồ chí ghi là vua Lê Thánh Tông đã cho làm một thiền viện (vừa là chùa vừa là trung tâm nghiên cứu) ở gò Phượng Chủy bên bờ Nam Hồ Tây cho người Chăm hành đạo, gọi là Thiền viện Châu Lâm, Gò Phượng Chủy nay là khu vực trường Chu Văn An, quận Ba Đình. Nhưng dân thì gọi là chùa Bà Đanh. Nay chùa chuyển sang khu vực 199B phố Thụy Khuê, chung với chùa Châu Lâm.
Chùa Bà Móc ở phố Nguyễn Thiếp, số nhà 27. Không rõ lai lịch, chùa cũng không còn cổ vật, trừ tấm bia mang niên hiệu Cảnh Thịnh thứ 4 (1796) do Nguyễn Cát Địch làm đốc học ở Quốc Tử Giám soạn nói về việc tu sữa nhà. Như vậy, chùa cũng đã có trước đó ít ra là bảy tám chục năm…
Nghe đồng nghiệp trả lời du khách, tôi rút được bài học nhớ đời rằng: làm hướng dẫn viên cần phải nghiên cứu am hiểu nhiều các lĩnh vực mới có thể làm việc tốt hơn, phục vụ khách chu đáo hơn.
14,1 tỷ đồng cho xây dựng khu bảo tồn thiên nhiên đakrông
Tỉnh Quảng Trị đang triển khai xây dựng dự án khu bảo tồn thiên nhiên Đakrông. Với diện tích 40.526 ha, khu bảo tồn thiên nhiên Đakrông hiện có 597 loài thực vật, 45 loài động vật, trong đó có 4 loài thú, 4 loài chim đặc hữu duy nhất có ở Việt Nam.
Dự án khu bảo tồn thiên nhiên Đakrông có tổng vốn đầu tư 14,1 tỷ đồng, sau khi hoàn thành vừa có nhiệm vụ bảo vệ giá trị đa dạng sinh học, các nguồn gen quí hiếm động, thực vật, vừa bảo vệ hệ sinh thái điển hình của dãy Trường Sơn. Ngoài ra, khu bảo tồn còn là rừng phòng hộ đầu nguồn, cung cấp, điều tiết nguồn nước ở sông Đakrông và Thạch Hãn.
Diệp Hiền – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 19(181)2001

Khoang xanh huyền thoại xưa và nay

Trên nền dấu tích xưa. Là vùng đất cổ của tỉnh Hà Tây, Ba Vì có truyền thống văn hóa, lịch sử lâu đời với nhiều nét sinh hoạt phong phú, độc đáo. Ở đó, có dãy núi Ba Vì không chỉ nổi tiếng bởi câu chuyện cổ tích dân gian đặc sắc, huyền thoại Sơn Tinh – Thủy Tinh, đây là vùng đất sinh thái tự nhiên với rừng quốc gia nhiều tầng trùng điệp, nhiều danh lam thắng cảnh kỳ thú, trong đó có Khoang Xanh. Do đặc điểm có rừng nguyên sinh bạc ngàn, dưới có suối hồ nhỏ trong xanh, nên người dân tộc Mường ở đây đã đặt tên cho vùng đất này là Khoong Xeng, người kinh phiên âm thành Khoang Xanh.
Khoàng Xanh tựa một thung lũng nằm ngay chân núi Ba Vì, cách thị xã Sơn Tây 15 km, thuộc địa phận Vân Hòa, huyện Ba Vì. Tuy là vùng đệm của khu vực dân cư với sinh thái tự nhiên, nhưng rừng ở đây vẫn nguyên vẻ hoang sơ, có hệ động thực vật đa dạng, quý hiếm. Là một trong những địa danh thuộc quần thể núi Ba Vì, nên Khoang Xanh cũng mang những dấu ấn quan trọng trong huyền thoại Sơn Tinh – Thủy Tinh. Tại đây có con suối trong mát quanh năm không khi nào cạn nước. Truyền thuyết dân gian kể rằng, sau khi giúp chồng Sơn Tinh đánh thắng giặc Thủy, Công chúa Mỵ Nương cùng các Tiên nữ thường xuyên xuống con suối này ngâm mình tắm mát, nên suối có tên là suối Tiên. Suối Tiên bắt nguồn từ đỉnh núi Ba Vì, len lỏi qua các tảng đá rồi đổ xuống thác sâu, nhìn như một giải lụa bạc khổng lồ vắt mình qua sườn núi. Ngược theo con suối hơn 1 cây số, còn nhiều thác đẹp như thác Mơ, thác Mâm Xôi, thác Hòa Lan… Nhiều hòn đá lớn mang hình thù lạ, chúng được nhận dạng từ chính cái tên của mình hòn đá Cô Đơn, hòn Trống Mái, bàn Cơ Tiên… Những ngọn thác, những hố sâu, những hòn đá tảng xô lệch… đều là những dấu tích của trận đánh ác liệt giữa Sơn Tinh – Thủy Tinh. Rừng của Khoang Xanh bây giờ vẫn còn nhiều cây thuốc quý như: chân chim, hy thiêm, mã tiền, hà thủ ô, thổ phục linh… từng được các lang y ngày ấy dung để chữa trị cho các thương, bệnh binh của quân Sơn Tinh.
Là một vùng đất được thiên nhiên ban tặng bao vẻ đẹp hùng vĩ, đầy ắp huyền thoại xưa, những Khoang Xanh vẫm như cô gái đẹp sống ẩn khuất trong rừng cho đến một ngày … lần đầu tiên con người đặt chân tới.
Huyền thoại thời nay. Từ một chuyến đu píc níc xung quanh vùng búi Ba Vì, đôi banh thân Ohạm Quang Lợi và Nguyễn Viết Thuận cùng nhận ra vẻ đẹp tuyệt vời của thung lũng Khoang Xan. Vốn đam mê du lịch, hai anh liền nảy ra ý định biến vùng đất này thành điểm du lịch hấp dẫn. Sau nhiều ngày khoác ba lô lặn lội khảo sát, mở đường họ đã đi đến quyết định táo bạo là đầu tư một tỷ đồng vào việc chinh phục thiên nhiên này. Với phương châm tôn trọng và bảo tồn vẻ hoang sơ, họ tậ trung vào khoanh vùng, xây dựng cơ sở hạ tầng: nhà nghỉ, đường xá, đặc biệt là cây cầu mang tên Thuận Lợi đã giải quyết cơ bản khó khăn giao thông. Năm 1994, Công ty TNHH Du lịch Khoang Xanh ra đời đã thực sự đưa khu du lịch này đi vào hoạt động theo cơ chế một doanh nghiệp.
Vừa khai thác, vừa tiếp tục đầu tư, đến nay Khoang Xanh – Suối Tiên đã trở thành khu du lịch nổi tiếng. Các loại hình du lịch ngày càng hoàn thiện và có sức hấp dẫn với mọi đối tượng khách du lịch. Ngoài các loại hình như leo núi, dã ngoại, tắm suối, thăm các bản dân tộc Mường tham gia sinh hoạt văn hóa làng bản, các chương trình hoạt động ẩm thực…, Khoang Xanh đang bổ sung nhiều loại hình vui chơi giải trí mang bản sắc riêng của mình. Đến nay, khu du lịch đã được đầu tư hơn 6 tỷ đồng, trong đó dành một phần đáng kể cho việc giữ gìn môi trường tự nhiên, trồng cây xanh, bảo tồn rừng nguyên sinh… Khu du lịch đã tạo việc làm, ổn định đời sống cho hàng trăm người lao động. Nhờ có loại hình du lịch, vui chơi đa dạng, hấp dẫn, lượng khách đến Khoang Xanh ngày càng tăng. Theo Phó giám đốc Nguyễn Viết Thuận, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty, tháng 5/2001 hoàn thành các chương trình vui chơi giải trí mới, lượng khách du lịch sẽ tăng từ 60 ngàn lượt của năm 2000 lên đến 100 ngàn lượt trong năm 2001. Trong tương lai, khu du lịch Khoang Xanh sẽ là điểm đến của du lịch vào bất kỳ thời điểm này trong năm.
Đến Khoang Xanh – Suối Tiên, du khách khó nhận ra sự can thiệp của bàn tay con người đối với thiên nhiên. Có chăng chỉ là sự bổ sung, tác động làm tôn vinh những giá trị to lớn của tiềm năng thiên nhiên và biến vùng đất hoang sơ trở nên gần gũi hơn, có ích cho con người. Tất cả được diễn ra như một phép màu – phép màu trong huyền thoại của thời nay.
Từ một nơi gần như chưa có dấu chân người, ngày nay, Khoang Xanh – Suối Tiên đã trở thành khu du lịch có quy mô bề thế, hấp dẫn. Đó là kết quả từ bàn tay sáng tạo của con người, một cuộc chinh phục của thiên nhiên tựa như trong huyền thoại của thời nay.
Bùi Hỏa Tiễn – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 221 (186) 2001

Quản lý tốt nhờ công nghệ

Quản lý tốt nhờ công nghệ thông tin… Đối với hoạt động kinh doanh du lịch, công nghệ thông tin đang là công cụ lợi hại được các nhà quản lý đặc biệt quan tâm về đầu tư khai thác, sử dụng. Một trong những doanh nghiệp du lịch sớm ứng dụng và ứng dụng có hiệu quả công cụ này là Công ty Khách sạn Du lịch Kim liên. Dưới đây là cuộc trao đổi phóng viên Báo du lịch và Giám đốc Phan Đức Mẩn về vấn đề này:
Phóng viên: Thưa ông, quản lý tốt là yếu tố quan trọng đem lại hiệu quả kinh doanh cao, vậy những thành công trong kinh doanh của Công ty khách sạn Du lịch Kim Liên là nhờ biện pháp quản lý nào?
Giám đốc Phan Đức Mẫn: Đúng vậy, trong hoạt động kinh doanh dù ở bất kỳ lĩnh vực nào, công tác tổ chức quản lý, đổi mới quản lý đóng vai trò quan trọng. Vấn đề đặt ra là phải quản lý như thế nào, công nghệ quản lý ra sao? Cũng như mọi doanh nghiệp khác, Công ty KSDL Kim Liên vẫn dựa trên các biện pháp hành chính theo các chuẩn mực quy tắc nhất định ở mọi lĩnh vực hoạt động. Tất cả đều được giám sát theo những văn bản có tính pháp quy của Nhà nước. Thành công lớn nhất của công ty là đã đưa công nghệ thông tin vào ứng dụng trong công tác quản lý. Đến nay tôi có thể khẳng định rằng chúng tôi quản lý tốt nhờ công nghệ thông tin vào ứng dụng trong công tác quản lý.
Phóng viên: Như vậy ở Công ty chắc chắn đã có cuộc cách mạng về công nghệ tin học?
Giám đốc Phan Đức Mẫn: Như các bạn đều biết, hiện nay xã hội ta đang bước vào nền kinh tế tri thức trong đó công nghệ thông tin là mũi nhọn, công nghệ tin học đã thâm nhập vào tất cả các ngành nghề và bước đầu đã đạt được một số thành tích đáng kể. Trên thực tế, đến năm 1996, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý Khách sạn Kim Liên hầu như chưa có.
Tất cả các công việc quản lý khách sạn đều được bằng thủ công như: Theo dõi thu chi của mọi hoạt động trong khách sạn theo dõi lượng khách từng đến ở khách sạn và các hoạt động liên quan đến vấn đề tài chính như thu tiền phòng ăn uống, điện thoại…
Với cơ sở rộng lớn việc quản lý bằng thủ công không tránh khỏi lẻo lỏng, dẫn đến thất thoát về tài chính. Trước tình hình đó Đảng ủy, Ban Giám Đốc Công ty đã ra Nghị quyết phải dần dần đưa công nghệ tin học vào quản lý khách sạn.
Để đưa công nghệ thông tin vào quản lý, công ty đã thành lập Trung tâm ứng dụng đầu tư công nghệ – AIT. Chỉ trong một thời gian ngắn, Trung tâm đã xây dựng thành công giải pháp tổng thể cho phần mềm quản lý khép kín trong khách sạn. Phần mềm được khép kín phân tán mở có thể kết nối chúng với toàn ngành du lịch. Trung tâm đã mở lớp đào tạo cho toàn bộ cán bộ công nhân viên toàn Công ty sử dụng tin học cơ bản, tin học văn phòng và chương trình phần mềm quản lý khách sạn. Sản phẩm phần mềm do trung tâm xây dựng đã được ứng dụng hiệu quả trong Công ty và từ đây mạng LAN trong công ty được ra đời. Phải chăng đây chính là bước đột phá về công nghệ thông tin trong công tác quản lý khách sạn?
Phóng viên: Hiện nay hệ thống quản lý này hoạt động như thế nào, thưa ông?
Giám đốc Phan Đức Mẫn: Sau 2 năm, hệ thống chương trình quản lý khép kín đã cho thấy hiệu quả tăng lên rõ rệt cụ thể là:
Toàn bộ hệ thống cước điện thoại được truyền từ tổng đâì vào mạng một cách tự động, mỗi số điện thoại do khách gọi từ các phòng đều được hiển thị lên tất cả các màn hình của bất cứ máy trạm nào kết nối vào mạng và tự động tính tiền khi khách trả phòng. Từ đó đến nay doanh thu điện thoại tăng lên rõ rệt thay vì trước đây phải tính điện thoại bằng thủ công. Có thể nói đây là một trong hệ thống phần mềm tính cước hiện đại vào bậc nhất trong mô hình mạng LAN đối với tổng đài cỡ khách sạn.
Hệ thống quản lý lễ tân, buồng bàn, bả thực sự mang lại hiệu quả cho chúng tôi. Hệ thống quản lý được khách bắt đầu vào ở khách sạn đến khi khách trả phòng, mọi thông tin và phát sinh của khách đều được cập nhật một cách tự động như: hệ thống có thể tính được tiền phòng, tiền quá giờ, tiền ăn, tiền ký nợ các khoản… Hệ thống giúp khách hàng đặt phòng dễ dàng bắt cách thông qua điện thoại, fax, E – maill, Web. Khi khách trả phòng toàn bộ các thông tin tiền phòng điện thoại và phí các dịch vụ khác được in thành hóa đơn tổng thể cho khách hàng. Đây là khâu rất quan trọng trong việc chống thất thu về tài chính của công ty.

Vân Hổ – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Số 55 (191) – Năm 2001

Lời mời gọi từ xứ sở hoa ban

Nằm ở tiểu vùng Tây Bắc thuộc vùng du lịch Bắc Bộ, Lai Châu còn có những khó khăn nhất định về kinh tế – xã hội. Nhưng bù lại, nơi đây lại được thiên nhiên ban tặng nguồn tài nguyên du lịch đa dạng, là điều kiện để địa phương phát triển các loại hình du lịch.
Do đặc điểm địa hình Lai Châu có nhiều hang động đẹp cùng hệ thống thác ghềnh, núi rừng hùng vĩ… Những con suối, khe, hồ nước nơi các thung lũng đã tạo cho Lai Châu những thảm động, thực vật phong phú với những điểm du lịch xanh kỳ thú, hấp dẫn. Những điểm suối khoáng đã trở thành nơi nghỉ dưỡng tuyệt vời cho du khách. Nhưng, đến Lai Châu còn có nguồn tài nguyên quý giá là các di tích lịch sử tồn tại từ mấy trăm năm, sừng sững tạc vào lịch sử những giá trị văn hóa mà chẳng bạc tiền nào có thể tạo dựng nổi: Bia Lê Lợi, đền Hoàng Công Chất, hệ thống di tích Mường Phăng và khu di tích Điện Biên nổi tiếng khắp 5 châu bởi chiến thắng oai hùng năm xưa:
“Chín năm làm một Điện Biên
Kết vành hoa đỏ nên thiên sử vàng”
Những dấu tích văn hóa, lịch sử trên quả là những điểm đến đầy ý nghĩa cho du khách khi đã mang lại cùng bao cảm xúc là sự hiểu biết về lịch sử của một vùng đất xứ Tây Bắc.
Không chỉ có thế, Lai Châu còn có thế mạnh du lịch là các làn điệu dân ca, phong tục tập quán đặc sắc của 21 dân tộc anh em chung sống. Mỗi điệu hát, lời ca, sắc màu trang phục đều mang đậm bản sắc văn hóa của từng dân tộc. Nơi đây, cũng là quê hương của điệu múa xòe – nét văn hóa đặc trưng ở xứ sở hoa ban trắng thấm đẫm sắc màu huyền thoại, mà khách du lịch trong và ngoài nước đều chẳng thể nào quên nếu một lần được ngắm.
Nằm ở vùng biên ải Tây Bắc của Tổ quốc, Lai Châu còn có điều kiện mở rộng hoạt động từ khả năng hình thành các khu du lịch đa dạng. Lợi thế ở 2 cửa khẩu cho phép Lai Châu mở các tuyến du lịch quốc tế và nội địa, phát triển du lịch lữ hành cũng như các hoạt động bổ trợ.
Tiềm năng sẵn có cùng chủ trương phát triển đúng hướng của tỉnh đã tạo cho du lịch Lai Châu những khởi sắc. 5 năm qua, các lĩnh vực trong hoạt động du lịch đều có kết quả đáng kể, tăng trưởng cả về lượng và chất; doanh thu năm 2000 tăng 56% so với năm 1996; lượng khách cũng tăng 5% so với cách đây 5 năm. Cơ sở vật chất từng bước được củng cố, góp phần đáng kể cho doanh thu của ngành.
Dẫu đã hội được nhiều điều kiện cho phát triển các loại hình du lịch: văn hóa, sinh thái, nghỉ dưỡng, quá cảnh… nhưng Lai Châu vẫn còn không ít khó khăn trong quá trình mở rộng hoạt động du lịch. Cơ sở vật chất còn nghèo nàn, kinh phí đầu tư hạn hẹp, nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu về cả số lượng lẫn chất lượng. Vì vậy, thu hút đầu tư để phát triển du lịch là vấn đề được tỉnh đặc biệt quan tâm và sẵn sàng dành những ưu tiên có thể. Nhân dịp kỷ niệm 47 năm ngày chiến thắng Điện Biên, Lai Châu bày tỏ sự mong muốn được các nhà đầu tư quan tâm đến tỉnh nói chung và Điện Biên Phủ nói riêng, để hoạt động du lịch ở đây được phát triển tương xứng với tiềm năng sẵn có và tạo đà cho du lịch Lai Châu bứt phá lên phía trước.
Tổng cục du lịch quyết định tuyển dụng 18 công chức trẻ
Ngày 26/4/2001, lãnh đạo Tổng cục Du lịch đã trao Quyết định tuyển dụng và gặp mặt 18 công chức trẻ được tuyển chọn trong kỳ thi tuyển công chức vừa qua. Phát biểu căn dặn các công chức trẻ, Phó Tổng cục trưởng Vũ Tuấn Cảnh đã đánh giá cao kết quả tuyển chọn và nhấn mạnh rằng, những kiến thức được kiểm tra và lấy làm tiêu chuẩn tuyển chọn mới chỉ là cơ bản, các công chức trẻ phải biết ứng dụng vào công việc hàng ngày và phải biết tranh thủ kinh nghiệm của những người đi trước… Các công chức trẻ đã bày tỏ sự quyết tâm sẵn sàng hoàn thành tốt nhiệm vụ và khẳng định rằng cuộc thi tuyển vừa qua thực sự nghiêm túc, công bằng, đúng quy chế.
Số công chức mới được tuyển dụng đã về nhận công tác tại các đơn vị thuộc Tổng cục Du lịch như sau: Vụ Hợp tác quốc tế (4 người); Vụ Kế hoạch Đầu tư (2 người); Vụ Pháp chế (3 người); Vụ Tổ chức cán bộ (4 người); Vụ Du lịch (1 người); Vụ Khách sạn (1 người); Vụ Thanh tra (1 người); Văn phòng (2 người). Các công chức trẻ đã được lãnh đạo các Vụ đón nhận và trao quyết định tuyển dụng.
Khách sạn tây hồ hoàn thành công tác phục vụ đại biểu đại hội đảng IX
Trong dịp Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, khách sạn Tây Hồ đã chuẩn bị 116 phòng nghỉ sạch sẽ, tiện nghi, đảm bảo đúng tiêu chuẩn khách sạn 3 sao để đón tiếp 122 đại biểu của 8 tỉnh và 85 cán bộ phục vụ thuộc các đơn vị cảnh vệ, y tế, công an và lãnh đạo cụm. Toàn thể Cán bộ công nhân viên khách sạn đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đúng với phương châm đề ra: “An toàn, lịch sự, chu đáo, trọng thị”, góp phần vào thành công Đại hội.
Nguyễn Minh Quang – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 18(181)2001

Đến thăm chùa vàng kyoto

Kinkaku hay Chùa Vàng là cái tên nổi tiếng của một trong số các kiến trúc chính của ngôi đền Rokuon-Ji ở Kyoto. Cũng giống như ở Việt Nam, Nhật Bản có rất nhiều ngôi chùa đẹp và nổi tiếng, đặc biệt ở Kyoto, cố đô của Nhật Bản. Khi Hà Nội đang vui mừng chuẩn bị chào đón ngày kỷ niệm lần thứ 1000 của mình thì cũng là lúc hoa anh đào của xứ Kyoto khoe sắc đón chào 1000 năm Kyot. Năm 1994, đền Rokuon-Ji đã được công nhận là di sản văn hóa thế giới.
Kinkaku, trước đây có tên gọi là Sharide, là quần thể kiến trúc hài hòa, trang nhã với sự kết hợp của 3 phong cách kiến trúc khác biệt tạo nên sự độc đáo và rất gây ấn tượng. Tầng 1 có tên gọi Hu-sui-in, được xây theo kiến trúc cung điện với ý nghĩa tượng trưng cho nơi ở của hoàng gia. Tầng hai có tên gọi là Cho-on-do, xây theo kiểu nhà Samurai. Điều này phần nào phản ánh vai trò của giới võ sĩ đạo ở đất nước Nhật Bản, đặc biệt là ở cố đô Kyoto. Tầng 3 của Kinkaku được gọi là Kukkuyo-cho, mang phong cách đền thờ giáo phái Thiền. Ba tầng của Kinkaku là biểu hiện của 3 tầng lớp có quyền lực nhất trong xã hội Nhật Bản thời kỳ Muromachi.
Một điều độc đáo của Kinkaku là toàn bộ tầng 2 và 3 đều được dát những lá vàng rực rỡ trên lớp sơn mài Nhật. Mặc dù theo giải thích của các kiến trúc sư thì việc dát vàng chỉ nhằm mục đích mang lại sự hài hòa trong kiến trúc nhưng có lẽ nó còn mang một mục đích khác, đó là để thể hiện sự giàu sang và quyền lực. Trên chóp của ngôi đền là mô hình một con phượng hoàng uy nghi lộng lẫy theo phong cách Trung Hoa. Tất cả những sự kết hợp trên cho thấy về thực chất Kinkaku không đơn thuần mang tính chất của ngôi đền thông thường, mà có thể nói, sự tồn tại, dáng vẻ, phong cách kiến trúc của nó tất cả đều gợi nhớ lại thời đại của các Samurai – thời đại của các võ sĩ đạo tiếng tăm lừng lẫy trên đất nước hoa anh đào huyền bí.
Đã từ lâu, chùa Vàng (Kinkaku) được xem như biểu tượng của cố đô Kyoto cũng như hoa anh đào là biểu tượng của đất nước Nhật Bản xinh đẹp. Mỗi du khách khi ghé thăm Kyoto không thể không dừng chân trước đền Rokuon-Ji để được tận mắt chiêm ngưỡng một di sản văn hóa thế giới, được thả mình vào thiên nhiên trong lành, trong bầu không khí linh thiêng cho lòng mình được tĩnh tại và cũng để thưởng thức một cách uống trà độc đáo bên cạnh trà đạo nổi tiếng của Nhật Bản.
Nêpan: chiến dịch thu hút du khách
Nepal sẽ phát động một chiến dịch thúc đẩy du lịch kéo dài 3 tháng, bắt đầu từ ngày 1/5, nhằm thu hút khách du lịch Ấn Độ và tái tạo hình ảnh Nepal là một địa chỉ du lịch an toàn, sau vụ không tặc một máy bay của Hãng Hàng không Ấn Độ trên đường từ Kadmandu về New Dehli năm 1999.
Chiến dịch này là nỗ lực mới nhất của NTB nhằm thu hút du khách Ấn Độ. Du khách đến từ tiểu lục địa này thường chiếm 1/3 tổng số du khách đến Napal, nhưng đã giảm 32% trong năm 2000 vì lí do nói trên.
Chiến dịch thúc đẩy du lịch này cũng được sự hỗ trợ của các phương tiện thông tin đại chúng Ấn Độ, với những chương trình quảng cáo, chào mời du khách tới Nepal.
Nguyệt Ánh – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 17(181)2001

Đầu xuân phỏng vấn

Đầu xuân phỏng vấn – Đầu xuân phỏng vấn, ông Đỗ Văn Hoàng – Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm tổng giám đốc công ty, ông Đặng Bình – Phó Tổng giám đốc tổng công ty du lịch Bến Thành:
Phóng viên: Được biết trong năm 2000 Tổng Công ty Du lịch Sài Gòn đã được Chính phủ phê duyệt là doanh nghiệp hạng đặc biệt, và trong hoạt động Tổng công ty đã thu được những kết quả đáng khích lệ. Trong bước phát triển kế tiếp, Tổng Công ty đã đưa ra những chiếc lược gì trong việc hoạt động kinh doanh thưa ông?
Nếu từ năm 1999 chúng tôi đưa ra chương trình “Saigontourist – ấn tượng mới”, năm 2000 chúng tôi có chương trình “Tiếp thị – Chất lượng”, và từ cuối năm 2000 chúng tôi đã đưa ra chương trình tiếp thị – chất lượng – giảm giá thành, với các mục tiêu cụ thể và chỉ tiêu cụ thể trong toàn hệ thống Saigontourist.
Phổ cập khai thác kinh doanh trên mạng, tăng cường tiếp thị thị trường nước ngoài. Củng cố nâng cao chất lượng sản phẩm, chất lượng dịch vụ, phong cách thái độ phục vụ khách hàng. Nghiên cứu phát triển sản phẩm mới phù hợp từng thị trường mục tiêu. Áp dụng có hệ thống Quản lý chất lượng ISO 9000, ISO 14001, nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên để giảm giá thành sản phẩm và bảo vệ môi trường, nâng cao trình độ nghiệp vụ Cán bộ công nhân viên chức qua đào tạo huấn luyện.
Các chỉ tiêu trong năm 2001 tổng số lượt khách là 1.200.000 lượt, tăng 10% so với năm 2000, tổng doanh thu đạt 1.664 tỷ đồng tăng 105 so với năm 2000. Công suất sử dụng phòng các khách sạn quốc doanh đạt 69%, tăng 2% so với năm 2000; lãi gộp khối quốc doanh đạt 16%, riêng dịch vụ trong khách sạn, lữ hành đạt 20% doanh thu.
Phóng viên: Để đạt được mục tiêu và chỉ tiêu như trên, xin ông cho biết những bài học kinh nghiệm của Saigontourist?
Về vấn đề này có thể tóm gọn trong các công tác như sau:
+ Đoàn kết thống nhất từ lãnh đạo Tổng công ty đến cán bộ công nhân viên các cấp. Đổi mới phương thức quản lý phong cách điều điều hành phân cấp quản lý hợp lý đảm bảo tính sáng tạo của từng thành viên tiếp thị nhằm tạo sức mạnh tổng hợp của Saigontourist.
+ Tập trung nguồn vốn đầu tư và sử dụng hợp lý, kịp thời, khai thác nhanh hiệu quả từng công trình; thực hành tiết kiệm trong sản xuất và điều hành nhằm hạ giá thành sản phẩm, để có ưu thế cạnh tranh cả đạt hiệu quả trong kinh doanh.
+ Sản phẩm du lịch đa dạng và phong phú, phù hợp với nhu cầu khách hàng. Chúng tôi luôn nghiên cứu mở rộng, khai thác hoạt động các loại hình du lịch mới, xác định các dịch vụ lữ hành, lưu trú, ăn uống, mua sắm và xuất nhập khẩu là ngành chủ lực và thế mạnh của Tổng Công ty.
+ Có kế hoạch đào tạo, bố trí và sử dụng có hiệu quả, đồng thời phát triển nguồn nhân lực mới. Đào tạo chuyên môn và nâng cao trình độ lý luận chính trị cho cán bộ chủ chốt, phá dụng các thành quả của khoa học, công nghệ hiện đại, kinh tế tri thức trong quản lý và điều hành kinh doanh.
+ Qua phong trào thi đua, thường xuyên có biện pháp khen thưởng nhằm khuyến khích kịp thời, phát huy sự sáng tạo, ghi nhận đóng góp của tập thể và cá nhân, tăng năng suất lao động và hiệu quả trong công tác.
Phóng viên: Như trên ông có nhắc đến việc áp dụng công nghệ mới trong các hoạt động liên quan đến du lịch. Ông có thể nói rõ hơn về vấn đề hiện đại hóa và công nghiệp hóa trong ngành kinh tế du lịch?
Trong thời kỳ bùng nổ thông tin hiện nay, không những các lĩnh vực sản xuất trực tiếp phải thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa mà ngay cả ngành du lịch chúng ta cũng rất cần những chiến lược khả thi và dài hơn về công tác trọng tâm này. Theo chúng tôi, để thực hiện được điều này chúng ta cần quan tâm đến các điểm:
+ Ứng dụng kinh tế tri thức, tiến bộ khoa học kỹ thuật, đưa công nghệ thông tin vào lĩnh vực tuyên truyền quảng cáo, quảng bá, tiếp thị kinh doanh trên mạng, phổ cập và phát triển hệ thống E – commerce được thể hiện qua các mặt hoạt động cùng với các biện pháp truyền thống có hiệu quả.
+ Tăng cường công tác giữ vững và nâng cao chất lượng sản phẩm, phong phú và đa dạng sản phẩm du lịch, nghiên cứu phát triển sản phẩm mới, áp dụng các hệ thống quản lý ISO 9000 và ISO 14001 nhằm nâng cao hiệu quả trong quản lý và sử dụng tiết kiệm các nguồn tài nguyên, bảo vệ môi trường trong hoạt động du lịch khách sạn một cách có hiệu quả để du lịch Việt Nam được phát triển một cách đồng bộ, chắc chắn và bền vững thật sự chủ động hội nhập với khu vực và thế giới trong thời gian sắp tới.
+ Xây dựng hệ thống các chính sách cơ chế quản lý, tạo mối quan hệ liên ngành, liên bộ, có các biện pháp rốt ráo để giải quyết các vấn đề có liên quan trong lĩnh vực phát triển du lịch?
Phóng viên: Nhân đây chúng tôi cũng muốn biết ý kiến cá nhân của ông trong việc phát triển chung của ngành?
Theo tôi du lịch các nước trên thế giới được đánh giá là một trong những ngành kinh tế quan trọng phát triển mạnh trong vài thập niên qua. Riêng các nước trong khu vực đã qua thời kỳ khủng hoảng và du lịch đang phát triển nhanh, được xem như là một ngành kinh tế chủ lực. Du lịch Việt Nam chúng ta qua 40 năm hình thành và phát triển do điều kiện khách quan và chủ quan do hậu quả chiến tranh chiến tranh mức tăng trưởng chậm và thấp hơn các nước có nền du lịch tiên tiến trong khu vực.

Ngô Mạnh Hùng – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Số 55 (191) – Năm 2001

Hiệu quả từ mô hình “đội xung kích atgt” ở các trường học trên quốc lộ 5

Người tham gia giao thông trên Quốc lộ 5 (Hà Nội – Hải Phòng) đều biết những em học sinh mặc đồng phục màu xanh lá mạ, tay cầm cờ vàng làm tín hiệu cho các phương tiện giao thông giảm tốc độ vào những giờ cao điểm lúc đến trường và tan trường. Đó chính là các em trong Đội xung kích An toàn giao thông ở các trường học đóng gần Quốc lộ đang làm nhiệm vụ bảo vệ Trật tự an toàn giao thông.
Thực hiện Đề án bảo đảm Trật tự an toàn giao thông trên Quốc lộ 5 Quốc gia, Cục Cảnh sát giao thông đường bộ – đường sắt đã phối hợp với Công an và ngành Giáo dục – Đào tạo Hà Nội, Hưng Yên, Hải Dương và Hải Phòng mở đợt tuyên truyền và xây dựng 5 Đội xung kích An toàn giao thông ở 5 trường trọng điểm có lưu lượng học sinh tham gia giao thông trên tuyến với số lượng lớn là: Phổ thông trung học Cao Bá Quát (Gia Lâm, Hà Nội), Phổ thông trung học Mỹ Hào (Hưng Yên), Phổ thông cơ sở Lai Cách, Phổ thông cơ sở Phúc Thành (Hải Dương) và Phổ thông cơ sở Lê Thiện (Hải Phòng). Đồng thời chỉ đạo nhân rộng ra các trường học khác dọc tuyến, tổ chức cho các trường ký cam kết thi đua về giữ gìn Trật tự an toàn giao thông.
Mô hình Đội xung kích An toàn giao thông ở các trường học được thành lập nhằm nâng cao hiểu biết và ý thức chấp hành luật lệ giao thông trong học sinh các trường học và hạn chế đến mức thấp nhất tai nạn giao thông xảy ra đối với các em học sinh. Bởi vì từ khi Quốc lộ 5 được nâng cấp, đưa vào khai thác, sử dụng, hiện tượng vi phạm luật lệ giao thông của các em học sinh còn khá phổ biến: đi xe đạp sang phần đường của xe cơ giới, đi trái đường, điều khiển xe đạp đi hàng 3, 4, vừa đi vừa đùa nghịch, cho xe rẽ ngoặc đột ngột trước đầu xe cơ giới… gây mất trật tự an toàn giao thông và dẫn đến tai nạn giao thông. Đã có hàng chục em học sinh bị thương nặng hoặc thiệt mạng do tai nạn giao thông. Trong đó, chỉ trong vòng 4 tháng kể từ khi thông xe Quốc lộ 5, đã có hơn 10 em học sinh từ tiểu học đến lớp 12 bị thiệt mạng, nhiều em khác bị thương hoặc tàn phế..
Cùng với việc thành lập Đội xung kích an toàn giao thông, các trường học ngoài việc đưa luật lệ giao thông vào chương trình giảng dạy chính khóa, còn được phòng Cảnh sát giao thông tỉnh, Công an các huyện phát tài liệu, tờ áp phích, khẩu hiệu bướm về an toàn giao thông và cử cán bộ đến trường nói chuyện ngoại khóa về chuyên đề an toàn giao thông; Phòng Giáo dục các địa phương tổ chức giao lưu về an toàn giao thông giữa các trường, tổ chức cho các em xem triễn lãm về an toàn giao thông, đưa nội dung tuyên truyền Luật lệ an toàn giao thông vào các buổi sinh hoạt Đoàn, Đội, sinh hoạt lớp… giúp các em nắm được những kiến thức cơ bản về Luật lệ an toàn giao thông từ đó tự giác chấp hành. Nhưng nổi bật nhất vẫn là các hoạt động có hiệu quả của các Đội xung kích an toàn giao thông. Bằng việc gương mẫu trong học tập và chấp hành luật lệ giao thông, các em trong Đội đã thực hiện tốt nhiệm vụ hướng dẫn giao thông trong những giờ đến trường và tan trường; ghi tên nhắc nhở những bạn chưa chấp hành đúng luật lệ giao thông để nhà trường có biện pháp nhắc nhởm giáo dục kịp thời. Ngoài ra, các em còn tích cực tuyên truyền cho các tầng lớp nhân dân ở khu vực chấp hành các quy định về Trật tự an toàn giao thông như: không phơi rơm rạ trên đường, không phá dải phân cách đường, không chăn thả trâu bò trên Quốc lộ…
Kết quả bước đầu của phong trào tuyên truyền Luật lệ giao thông trong các trường học và hoạt động có hiệu quả của các Đội Xung kích an toàn giao thông trên Quốc lộ 5 đã mang lại kết quả đáng phấn khởi: Tình hình trật tự an toàn giao thông trên Quốc lộ được cải thiện đáng kể. Trong hơn 1 năm thực hiện, không có vụ tai nạn giao thông nào gây chết người xảy ra với các em học sinh, được dư luận nhân dân và các bậc phụ huynh đồng tình ủng hộ.
Trên cơ sở hiệu quả của mô hình Đội Xung kích An toàn giao thông trong các trường học trên Quốc lộ 5, thời gian tới Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia sẽ phối hợp xây dựng và nhân rộng mô hình này trên toàn quốc, trước mắt là ở các trường học dọc các Quốc lộ 1A, 51 trên những đoạn đường thường xuyên xảy ra tai nạn giao thông.
Trần Tuấn – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 16(181)2001

Căn nhà của du khách bốn phương

Hòa Bình là một tỉnh miền núi, nằm trong giải đất Tây Bắc của Tổ quốc, có địa hình phong phú, đa dạng với vàn đồi núi cao thấp, nhấp nhô… nổi tiếng là dòng sông Đà “Trăm bảy mươi thác, trăm ba mươi ghềnh”. Những thung lũng rộng lớn và trù phú của người Mường: “Nhất Bi, nhì Vàng, tam Thàng, tứ Động” và khung cảnh của những bản làng nên thơ, sếp nhà sàn cheo leo trên sường núi hay thấp thoáng trong sương mờ khiến du khách hết sức thích thú với cảm giác thực hư, mờ ảo. Địa hình nhiều núi đá vôi đã ưu đãi cho vùng đất của du lịch nhiều hang động đẹp, có giá trị và nguồn nước khoáng Kim Bôi với trữ lượng hàng triệu mét khối/năm. Đặc biệt, nền “Văn hóa Hòa Bình” nổi tiếng với công trình thủy điện lớn nhất Đông Nam Á với công suất 1.920 triệu MW đã tạo cho Hòa Bình một thế mạnh về Du lịch.
Nằm bên bờ trái của dòng sông Đà thơ mộng, giữa trung tâm thị xã Hòa Bình, Công ty khách sạn Phương Lâm rất thuận lợi cho du khách đi lại trong công tác cũng như mua sắm. Hiện nay, khách sạn được xếp loại tiêu chuẩn hai sao, gồm 40 phòng với trang thiết bị tiện nghi đầy đủ tiêu chuẩn quốc tế. Những căn phòng với nội thất hiện đại cũng tủ lạnh, ti vi, máy điều hòa của chăn ga gối đệm Hàn Quốc đã tạo cho chúng tôi cảm giác ấm cúng lạ thường khi bước chân vào.
Sau cảm nhận ấm cúng đó, các hoạt động vui chơi của khách sạn cũng sẽ tạo cho du khách cảm giác thích thú không kém. Phòng khiêu vũ hiện đại giúp bạn những giây phút giải trí lành mạnh bằng các vũ điệu nhẹ nhàng, hoặc sôi nổi. Phòng karaoke luôn mở rộng cửa để làm hài lòng sở thích của những người yêu nghệ thuật. Được biết, chỉ thời gian ngắn nữa là hệ thống phòng xông hơi, mát xa sẽ được hoàn thành.
Mặc dù nằm ở tỉnh miền núi, nhưng hoạt động của khách sạn Phương Lâm cũng rất phong phú với các dịch vụ lưu trú, vận chuyển, ăn uống, dẫn khách tham quan, các sinh hoạt văn hóa, văn nghệ đậm đà bản sắc dân tộc. Là một trong hai đơn vị của tỉnh được cấp giấy phép lữ hành, hằng năm khách sạn đón khách từ trong tỉnh đi các điểm du lịch ngoài tỉnh theo các tour: Hòa Bình – Huế – Nha Trang, Hòa Bình – Đồ Sơn – Hạ Long, Hòa Bình – Bãi Cháy – Trà Cổ – Móng Cái – Đông Hưng (Trung Quốc)… đón khách các tỉnh về Hòa Bình, từ khách sạn đến các điểm du lịch trong tỉnh như: Kim Bôi, Mai Châu, Thủy điện Hòa Bình, lòng hồ Sông Đà, Suối Ngọc Vua Bà, động Tiên Phi… và tour di bộ thăm quan bản làng dân tộc cho khách quốc tế với số lượng tương đối lớn. Ngoài ra tập trung đầu tư, nâng cấp trang thiết bị, cơ sở vật chất, đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ phục vụ khách hàng, Khách sạn còn mở rộng quan hệ với các đơn vị, doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh để tạo nguồn khách ổn định.
Hầu hết nhân viên của khách sạn đều được đào tạo nghiệp vụ du lịch rất cơ bản, đội ngũ hướng dẫn viên thông thạo chuyên môn, ngoại ngữ, nhiệt tình, cởi mở và luôn sẵn sàng cùng các đoàn khách đến tất cả các điểm du lịch trong và ngoài tỉnh. Cho nên, bình quân khai thác buồng phòng của khách sạn luôn ở cao.
Theo chúng tôi, tấm lòng cởi mở, tình người bao la, sự tận tình chu đáo của cán bộ nhân viên Lhách sạn chính là nghệ thuật thu hút khách du lịch của khách sạn Phương Lâm. Thế nhưng, khi trả lời vấn đề này, anh Trương Tuấn Dũng – Giám đốc Khách sạn, khiêm tốn trả lời: “Nghệ thuật gì đâu, mình phải coi khách hàng thực sự là người thân của mình. Sự hài lòng của du khách là niềm vinh hạnh của chúng tôi. Từ việc ăn, nghĩ đến phục vụ, phải làm sao cho khách vừa ý, có như vậy du khách mới coi khách sạn như là nhà của mình…”. Thật là một chân lý đơn giản. Mặc dù bận trăm công nghìn việc, nhưng Giám đốc Dũng vẫn giành thời gian quan tâm đến khách hàng của mình, anh sẵn sàng tiếp thu mọi ý kiến của du khách để bổ sung cho hoạt động kinh doanh của Khách sạn.
Đến với khách sạn Phương Lâm, du khách còn được thưởng thức những món ăn đặc sản của núi rừng: thịt hươu nướng, dê tái, dúi hầm, măng đắng, thịt trâu hầm lá chua… Mùi thơm của các món thịt nướng, hương vị của các món chiên xào hòa quyện với nhau ngọt ngào xua tan cái lạnh giá của mùa đông và tạo cảm giác ấm áp lạ thường.
Sau những ngày nghỉ tại Khách sạn, chia tay “thành phố Thủy điện” trong mưa và cái rét âm thầm lưu luyến, để rồi khi trở về Hà Nội, giữa chốn đô thị sầm uất nơi đô thành mà vẫn nhớ cái sâu lắng êm dịu, ấm áp tình người của Khách sạn Phương Lâm. Đi qua nhiều nơi, dừng chân tại nhiều khách sạn, nhưng Khách sạn Phương Lâm đã để lại trong lòng chùng tôi nhiều ấn tượng rất khó quên bởi sự tận tình và chu đáo, cộng với không khí thanh bình nơi đây. Một kỳ nghỉ lý thú và bổ ích đã đến, Khách sạn Phương Lâm sẽ là căn cứ đón chờ du khách bốn phương đến với du lịch Hòa Bình.
Diệp Ngọc Ly – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 12 (177) 2001