Cầu Cát Tiên nét mới trên đảo Cát Bà

Cát Bà được thiên nhiên ưu đãi một tiềm năng du lịch sinh thái quý giá trên núi có rừng nguyên sinh, dưới biển là những bãi tắm êm ả và thơ mộng ở ven những chân đảo nhỏ. Trước đây muốn ra bãi tắm Cát cò, du khách phải qua đường hầm dài hơn 100m trong ánh đuốc bập bùng hay màu vàng của ánh đèn điện tử phát khiến du khách còn ngại ngần khi đến với làn nước xanh của biển. Huyện có nhiều cố gắng trong việc mở đường, xẻ núi để ô tô có thể đưa du khách ra tận bãi tắm Cát Cò. Con đường mới từ khách sạn chùa Đông vượt qua sườn núi cao như chiếc cổng trời trên đảo giúp khách du lịch có thể đi ô tô ra sát bãi tắm Cát Cò. Trên kia bãi Cát Cò còn có một bãi tắm Cát Tiên thơ mộng và hoang sơ đầy hứa hẹn nếu được đầu tư khai thác. Ngăn cách giữa hai bãi tắm là dãy núi đá dài vươn ra biển. Mặc dù huyện đảo đã xây dựng hơn hai trăm bậc đá để giúp du khách đến với bãi tắm Cát Tiên dễ dàng hơn, song vẫn còn nhiều bất tiện vì nhiều người ngại leo núi, nhất là những người già và trẻ em. Ý tưởng xây dựng một đường cáp treo hay một cây cầu từ bãi Cát Cò sang bãi Cát Tiên đã hình thành nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng tăng của du khách muốn ra bãi tắm Cát Tiên vừa để giảm lượng người trở nên quá tải ở bãi tắm Cát Cò trong những ngày hè. Huyện đã nhờ một đơn vị thành phố tư vấn thiết kế, song phương án đó không khả thi vì phá vỡ cảnh quan môi trường và khá đắt. Vậy là những người con ở đảo Cát Bà nêu quyết tâm tự thiết kế và thi công. Sau phần khảo sát kỹ lưỡng thực địa phương án làm cầu treo dựa vào vách đá được chấp nhận. Cán bộ công nhân viên trạm cung ứng điện nước Cát Bà bắt đầu khởi công công trình vào tháng 12 năm 1999. Sau hơn ba tháng thi công, bất chấp mọi khó khăn. Trạm cung ứng điện nước Cát Bà đã hoàn thành cây cầu đảm bảo tiến độ. Ngày 1 tháng 4 năm 2000 huyện đảo Cát Bà tổ chức khánh thành và đưa vào sử dụng cầu Cát Tiên tuy được xây dựng bằng chất liệu thép gỗ, bê tông dài 600m rộng 1,2m với 385 nhịp cầu nhưng vẫn đảm bảo tính kỹ thuật, mỹ thuật, đi dạo trên cầu treo sườn núi thơ mộng du khách có thể tựa vào lan can phóng tầm mắt ra biển, hoặc có dịp khám phá thêm vẻ đẹp của cây cối và các thớt đá nơi đây. Cầu Cát Tiên thực sự là món quà quý dành cho du khách trong mùa du lịch năm 2000.
Lê Hiệp-Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 29(133)2000.

Về vụ mua bán trẻ em ở Ninh Bình “những điều còn chưa biết” – Phần 2

Về phía những người nước ngoài khi đến nhận con nuôi cũng bị thu thêm 500 nghìn đồng/cháu. Nói cách khác, với sự trí trá lươn lẹo và bóc lột đến tận cùng xương tủy của những người mẹ, người nuôi trẻ, chỉ nguyên khoản “lệ phí”, ông Luật và tay chân đã bỏ túi được khoảng 1 triệu đồng một cháu. Tức 371 cháu, ông Luật và tay chân xơi gọn 371 triệu đồng. Tuy nhiên, chuyện ăn tiền từ vụ mua bán trẻ em cho người nước ngoài của ông Luật và tay chân không chỉ dừng ở đó mà còn có rất nhiều kiểu ăn tiền khác như đáng lẽ sau khi sinh phải được nuôi đủ 6 tháng hay một năm mới đủ tiêu chuẩn xuất nhưng ông Luật và tay chân chỉ nuôi vỗ tầm 2 – 3 tháng, có khi chỉ một tháng rồi cho xuất luôn nếu gặp khách cần gấp. Như vậy, công nuôi dưỡng và chi phí cho người nuôi dưỡng cũng đã bị cắt xén đi rất nhiều. Bên cạnh đó, ông Luật và tay chân còn có một kiểu ăn bớt khác, ví dụ: thường mỗi người nuôi dạy trẻ chỉ trông được khoảng 3 – 5 cháu vì với loại trẻ lau nhau rất khó chăm sóc bởi ngoài việc bế ẵm, làm công việc thay, giặt tã lót, tắm rửa, người nuôi còn phải nấu bột và bón cho chúng ăn, song để giảm chi phí cho việc thuê người trông coi nuôi dưỡng, nghe nói ông Luật và tay chân đã cho thuốc ngủ vào bột ăn, nước uống. Vì vậy, các cháu suốt ngày đêm chỉ ngủ li bì, chẳng bao giờ thấy tiếng khóc. Ai đến cũng khen Trung tâm khéo nuôi dạy trẻ. Do áp dụng thủ đoạn cho thuốc ngủ vào bột, vào nước uống như vậy nên một người nuôi dạy trẻ ở Trung tâm Tam Điệp có thể chăm sóc được rất nhiều cháu. Riêng mánh giảm bớt người nuôi dạy trẻ, ông Luật và tay chân cũng đã bỏ túi được rất nhiều tiền. Những ngày ở Ninh Bình tôi đã được rất nhiều người biết vụ án này khẳng định là có chuyện bỏ thuốc ngủ vào bột. Bởi trong một chuyến vận chuyển trẻ sơ sinh lên Hà Nội, ông Luật và tay chân đã làm chết một bé khi mới đến địa phận huyện Thường Tín (Hà Tây).
Trong vụ án “mua bán 371 trẻ em ở Ninh Bình” thì cơ quan điều tra đã phát hiện có tới 155 hồ sơ giả. Riêng ông Giám đốc Sở Tư pháp Ninh Bình trực tiếp ký 55 trường hợp. Nói cách khác: 155 trẻ giả này được ông Luật chỉ đạo cho ông Vũ Tiến Mạnh đi làm “công tác tư tưởng” để xin những đứa trẻ bị bỏ rơi vãi ở các bệnh viện, hè đường, góc phố, bến tàu, bến xe, nhà ga….đang được bệnh viện và những người tốt bụng đón về nuôi. Rất nhiều người khi nghe ông Mạnh giới thiệu mình là “người của Trung tâm nuôi dưỡng trẻ mồ côi Tam Điệp” đã không lấy tiền, hoặc chỉ lấy một nửa, hoặc chỉ lấy tượng trưng. Bên cạnh đó, ông Mạnh còn đem các bộ hồ sơ có sẵn đến gặp các bà mẹ, người vợ của những gia đinh có hoàn cảnh, nhờ họ ký vào rồi sau đấy biếu họ 200 nghìn đồng. Có nghĩa số trẻ sơ sinh này, ông Luật, ông Mạnh và tay chân ngoài khoản ăn đứt 1.400 USD còn ăn thêm được 1,8 triệu là số tiền lẽ ra phải trả hết cho những người đã bán chữ ký.
Giang Thạch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 29(81)1999

Về vụ mua bán trẻ em ở Ninh Bình “những điều còn chưa biết” – Phần 1

-Trại Tam Điệp, Trung tâm thu mua gom trẻ em để “xuất”…ngoại.
-Cho thuốc ngủ vào thức ăn để trẻ “ngủ ngon”.
-Trở thành tỷ phú nhờ “món hàng” trẻ em.
-Hãy cứu lấy ngành Tư pháp Ninh Bình
Anh Nguyễn Hữu Hoàng, vốn là thiếu tá công an chuyển ngành sang Sở Tư pháp Ninh Bình, cách đây chưa lâu vẫn còn là phó bí thư chi ủy kiêm phó chủ tịch công đoàn, kiêm chủ tịch Hội luật gia Sở Tư pháp Ninh Bình. Nói vài dòng về anh như vậy để thấy rằng anh Hoàng rất có năng lực, uy tín trong cơ quan. Nhưng do không chịu ăn cánh, nhập cuộc để “đánh quả” vụ “mua bán 371 đứa trẻ” và dám góp ý về việc làm sai trái với tư cách sống…của ông Nguyễn Phúc Luật (Giám đốc Sở Tư pháp Ninh Bình) mà gần đây bị cách chức trưởng phòng, cho ngồi chơi xơi nước, và “cho mày muốn kiện đâu thì kiện !”.
Sau khi làm xong thủ tục xã giao với nhau và được chúng tôi nói rõ mục đích của mình vào đây thì anh Hoàng nói: “Vụ án này lẽ ra được đưa ra giải quyết trong nội bộ tỉnh nhưng thời gian gần đây do có nhiều thông tin lọt ra ngoài, dân biết hết cả rồi nên không thể giữ kín được nữa. Công an, Viện kiểm sát, Tòa án đang gấp rút chuẩn bị hoàn thành nốt một số thủ tục để đưa vụ này ra xét xử vào thời gian sớm nhất !”. Cuối cùng, anh Hoàng nói thêm: “Vì vụ án đang trong quá trình điều tra do đó không thể cung cấp hết tất cả được, mà chỉ một phần của vụ án”.
Người thứ hai cũng làm việc trong Sở Tư pháp là anh Phạm Mạnh Ái cũng vì dám làm đơn tố cáo những hành vi sai trái của ông Nguyễn Phúc Luật nên đã bị ông Luật cho nghỉ, song anh không hề hối tiếc mà vẫn dũng cảm đấu tranh.
Theo như sự tố cáo của hai anh cảnh sát trung kiên này thì sai trái được thể hiện ngay từ đầu năm 1995, lúc ông Luật đề nghị thành lập Trung tâm nuôi dưỡng trẻ mồ côi để bán cho người nước ngoài làm con nuôi ở thị trấn Tam Điệp nhưng lại phụ thuộc quyền của bệnh viện Tam Điệp. Bởi chức năng của bệnh viện không phải là nuôi dưỡng trẻ mồ côi và môi giới buôn bán trẻ, hơn nữa bệnh viện Tam Điệp chỉ là bệnh viện cấp huyện. Thế nhưng ông Luật vẫn bỏ ngoài tai sự góp ý của nhiều cán bộ, nhân viên trong ngành và của các cơ quan Pháp luật. Tiếp theo, ông Luật lại ủy quyền cho ông Vũ Tiến Mạnh, trưởng phòng quản lý hộ tịch tư pháp của Sở Tư pháp Ninh Bình giao tạm con nuôi cho người nước ngoài trước khi Ủy ban Nhân dân tỉnh có quyết định, rồi tự đặt ra lệ phí thu thêm và sử dụng trái phép số tiền thu thêm này.
Như vậy, từ khi thành lập Trung tâm nuôi dưỡng trẻ mồ côi để bán cho người nước ngoài làm con nuôi (1/5/1995) đến tháng 12/1998 thì “dưới sự lãnh đạo” của ông Nguyễn Phúc Luật, quân dưới quyền của ông ta đã trực tiếp thực hiện trót lọt mua gọn bán đứt 371 trẻ sơ sinh với người nước ngoài. Giá mỗi cháu trung bình 1.400 USD, nhưng ông Luật và tay chân chỉ trả cho mẹ đứa trẻ 2 triệu đồng Việt Nam song lại thu 200 nghìn đồng làm “lệ phí” với lý do “để chi phí cho lễ nhận bàn giao”.
Giang Thạch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 29(81)1999

Lễ hội chọi trâu liệu có thành sản phẩm du lịch

Dù hội thảo đã đặt ra nhiều vấn đề khác nhau, thậm chí đối lập nhau xung quanh lễ hội chọi trâu ở Đồ Sơn, nhưng tất cả đều hướng tới một mục tiêu là làm thế nào để đưa lễ hội chọi trâu Đồ Sơn gắn liền với sản phẩm du lịch của Thành phố Hải Phòng…
Với 15 bài tham luận, ý kiến của các nhà khoa học, cơ quan nghiên cứu, các nhà quản lý, người có bề dày kinh nghiệm trong việc nuôi dưỡng, huấn luyện trâu chọi… được trình bày tại hội thảo, lần đầu tiên lễ hội chọi trâu truyền thống ở Đồ Sơn được đánh giá, nhìn nhận dưới nhiều khía cạnh, góc độ khác nhau. Có một điểm chung nhất được mọi người cùng thừa nhận và đề cao, đó là: lễ hội chọi trâu Đồ Sơn là lễ hội độc đáo có một không hai, không chỉ ở Việt Nam mà đối với cả khu vực Đông Nam Á. Đây là nét văn hóa đặc trưng của dân cư vùng Đồ Sơn nói riêng, Hải Phòng nói chung. Khác với những cuộc đấu bò tót ở Tây Ban Nha hay lễ hội đâm trâu ở Tây Nguyên… chọi trâu ở Đồ Sơn là cuộc đấu giữa hai đối thủ đều là con vật mà trí và lực của chúng đều có sự tác động của con người, thông qua việc lựa chọn, nuôi dưỡng và dày công huấn luyện. Nghi thức và nội dung của lễ hội như được gửi gắm nỗi khát khao về một sức mạnh trong lao động, chiến đấu của con người, thể hiện đậm đà nét văn hóa tâm linh gắn bó với đời sống của cư dân vùng biển Đồ Sơn từ bao đời nay.
Tuy nhiên việc xác định đâu là nguồn gốc của lễ hội thì vẫn chưa có được sự thống nhất. Mỗi một công trình nghiên cứu đều có cách lý giải riêng, dựa trên cơ sở những tài liệu mô tả một truyền thuyết hay một câu chuyện hư cấu từ một nhân vật trong lịch sử… Rốt cuộc, hiện nay có không dưới 3 loại ý kiến khác nhau đều mang những nét huyền bí duy nhất. Phải chăng đây cũng là sắc thái bí ẩn đặc trưng của lễ hội, làm phong phú thêm tính hấp dẫn của nó có sức thu hút đối với du khách.
Thực ra vấn đề liên quan cơ bản giữa lễ hội chọi trâu với hoạt động du lịch là ở hình thức tổ chức và những giải pháp bảo tồn nét văn hoá độc đáo của địa phương. Mặc dù có nhiều đánh giá cho rằng nghi lễ và hình thức hội chọi trâu hiện nay đã có phần đơn giản hơn thời xa xưa, nhưng những gì đã thể hiện qua 10 năm lễ hội được khôi phục vẫn đang có nhiều tranh luận. Đa số ý kiến cho rằng: Hội chọi trâu chỉ có ở Đồ Sơn, mang sắc thái văn hoá, tâm linh của riêng cộng đồng dân cư vùng biển Đồ Sơn. Do đó không thể mang hội chọi trâu đến một nơi nào khác, vùng nào khác để làm trò biễu diễn, khai thác du lịch. Hơn nữa, đã là hội làng nó chỉ diễn ra trong một thời điểm nhất định phù hợp với nguồn gốc lịch sử, mang nội dung gắn với mùa màng, thời tiết… nên không thể tổ chức triền mien quanh năm suốt tháng để khai thác du lịch. Cũng không nên tính tới chuyện bãi bỏ việc giết trâu sau thi đấu. Vì đây là hoạt động tâm linh: Mỗi chủ trâu đều phải thực hiện việc giết trâu tế thần để cầu mong một năm mưa gió thuận hoà, cuộc sống bình an làm ăn thịnh vượng… Nếu vì e ngại tính hoang dại của lễ hội làm ảnh hưởng đến tâm lý của du khách thì nên tuyên truyền ở mức độ vừa phải, dù đảm bảo tính chính xác của nội dung lễ hội mà thôi.
Nhìn chung, tổ chức hoạt động du lịch thông qua lễ hội chọi trâu không có nghĩa phải can thiệp vào chính lễ hội bằng cách thay đổi, cải biến hoặc bổ xung những yếu tố ngoài nội dung, hình thức vốn có. Mà chỉ có thể khai thác các yếu tố xung quanh sự kiện như: xây dựng nhà bảo tàng về lễ hội chọi trâu, trong đó có chiếu phim về các kỳ lễ hội, trưng bày các tư liệu lịch sử, các hiện vật có ý nghĩa; Tổ chức xản suất hàng lưu niệm gắn với ý nghĩa của lễ hội, in ấn các tài liệu chuyên sâu về nội dung và hình thức của lễ hội; Đưa du khách đi thăm các cơ sở nuôi dưỡng, huấn luyện, tìm hiểu cách lựa chọn trâu chọi… Mỗi năm vẫn duy trì 2 kỳ lễ hội vào tháng 6 và tháng 8 âm lịch, nhưng có thể tăng thêm số trâu tham gia để kéo dài thêm số ngày lễ hội… Thực tế những giải pháp này đến nay vẫn chưa được tính đến.
Kỳ lễ hội 1999 vừa qua, mặc dù đã diễn ra suôn sẻ, nhưng với những người làm du lịch được chứng kiến thì chưa lạc quan bởi cách tổ chức luộm thuộm và thiếu an toàn. Hàng vạn con người chen chúc, nhốn nháo trong một đấu trường vốn đã nhỏ hẹp, rào chắn lại mỏng manh trước sự hung bạo của những “ông trâu” đang hăng máu. Chỉ độ hơn chục khách nước ngoài dù tỏ ra rất thích thú nhưng cũng đành bỏ dở giữa chừng vì phải lo thoát thân. Chắc chắn trong họ sẽ không có những ấn tượng tốt đẹp từ lễ hội này.
Đồ Sơn nói riêng, Hải Phòng nói chung vốn đã có thế mạnh là một trong số 14 trọng điểm du lịch của cả nước với điều kiện tiềm năng sẵn có và cơ sở hạ tầng thích hợp. Hội chọi trâu Đồ Sơn lại được chọn là một trong 15 lễ hội trong chương trình du lịch quốc gia gắn với lễ hội dân tộc. Nhưng ở đây rất cần một kế hoạch cụ thể, một chương trình du lịch hợp lý để khai thác sự kiện lễ hội chọi trâu Đồ Sơn như một mùa du lịch lễ hội trong năm. Thực sự đưa lễ hội trở thành một sản phẩm du lịch độc đáo của địa phương, không những góp phần phát triển du lịch mà còn phục vụ công tác bảo tồn, phát huy bản sắc văn hoá của dân tộc.
Bùi Hỏa Tiễn – Tuần Du lịch – Số 39(91) 27/9 -4/10/1999

Catsê của ca sĩ leo thang đến bao giờ ?

Thật chẳng ngoa khi bây giờ người ta quan niệm rằng, nghề “ca sĩ” là nghề hái ra tiền với số catsê lợi nhuận khổng lồ mà nghề khác chỉ có được trong mơ. Không ai có thể tưởng tượng rằng, bây giờ muốn một ca sĩ “xuất đầu lộ diện”, phải có tiền triệu, thậm chí chục triệu hay còn hơn thế.
Chuyện trả catsê cao cho các ca sĩ mới chỉ bắt đầu mấy năm lại đây, khi các chương trình ca nhạc bung ra rầm rộ với sự “lên ngôi” của hàng loạt ca sĩ trẻ: Thanh Lam, Mỹ Linh, Phương Thanh, Lam Trường, Trần Thu Hà, Bằng Kiều, Hồng Nhung, Thu Phương, Quang Linh….Những ca sĩ trẻ này (được gọi là “sao”, theo cách gọi của các ông bầu), vì tầm quan trọng, không thể thiếu trong các chương trình ca nhạc nên dần theo đó, catsê của họ được “leo thang”. Thử làm phép so sánh: trước kia, catsê của họ chỉ từ 300.000 – 800.000 đ (năm 1996) thì nay, với các “sao” lớn catsê tại chỗ (nơi ca sĩ sinh sống) là 2 – 3 triệu đồng/sô diễn, các “sao” nhỏ hơn là 1 – 1,5 triệu đồng. Catsê có 2 loại: tại chỗ và đi tỉnh, hai mức này chênh nhau khá lớn. Catsê tại chỗ cao nhất hiện nay thuộc về ca sĩ P.T với giá 5 triệu đồng, còn đi tỉnh ngoài với một loạt “sao” là 10 triệu đồng. Thật là những con số catsê cao đến “khủng khiếp” khi so với lương bình quân của một người lao động bình thường là 400.000đ, (để có số tiền chỉ bằng một đêm diễn của ca sĩ, họ phải mất…2 năm trời).
Giá catsê biến động như giá vàng. Dường như các ca sĩ không bằng lòng với số tiền đạt được nên họ liên tục đòi tăng giá. Từ 2,3 rồi đến 5 triệu đồng tại chỗ, đi tỉnh từ 4,5,6 triệu đến 8,10 triệu đồng. Còn có cả một cuộc “đua tranh” giữa các “sao”, nếu biết ca sĩ X nào đó có mức cao hơn mình là lập tức, ở một chương trình khác, ca sĩ Y cũng đòi bằng, thậm chí cao hơn và giá catsê cứ thế mà leo. Người ta phải kêu lên rằng: catsê của các ca sĩ đang tăng lên theo cấp số nhân. Nhiều người trong số họ đã mua nhà lầu, xe hơi, tậu đất…, có người còn thay xe ô tô xoành xoạch…
Chuyện catsê của các ca sĩ được trả cao sẽ không có gì phải bàn, phải nói (thậm chí còn mừng cho họ) nếu như vì được hưởng catsê đó mà họ sẽ vì nghệ thuật hơn. Song trớ trêu thay, giá càng cao thì sự cẩu thả càng lắm; các ca sĩ mải mê kiếm tiền, ôm hết hợp đồng này đến hợp đồng khác rồi không còn thời gian mà đầu t cho mỗi bài hát. Kiểu “hát vờ” (nghĩa là hát theo đĩa thu sẵn cả nhạc và lời) không phổ biến lắm nhưng không phải không có trong giới ca sĩ; bởi đây là cách thuận lợi nhất đảm bảo giọng ca cho họ nếu như cùng một đêm họ phải chạy sô từ điểm diễn này đến điểm diễn kia dẫn đến quá mệt và không thể hát thật. Ngay như mới đây, ca sĩ P.T trong “Đẹp 99” tổ chức tại Hà Nội, do bận chạy sô từ Bắc Giang về đã…hết hơi. Mặc dù không “hát vờ”, song ca sĩ này đã chơi kiểu cứ hát một câu lại bỏ một câu. Chỉ thiệt cho khán giả ngồi dưới nghe tức anh ách.
Catsê cao, chất lượng nghệ thuật không cao…, suy đến cùng khán giả là người thiệt nhất. Catsê cao sẽ dẫn đến việc giá vé phải cao do các ông bầu không bao giờ chịu thua thiệt quay sang nâng giá vé 80.000 – 100.000 – 120.000 đồng là giá vé thịnh hành đã vượt quá mức hưởng thụ của người dân, ngăn họ đến rạp do không thể chịu được giá cao như thế. Liệu các “sao” có biết điều này và liệu họ có còn tiếp tục nâng giá catsê ? Khán giả vẫn luôn rất yêu quý, ưu ái, bỏ tiền mua vé để được nghe, xem họ, thưởng thức nghệ thuật, nhưng tất cả cũng chỉ đến một ngưỡng nào đó, nếu các ca sĩ không nhìn nhận lại đúng mình, đòi catsê cao mà chất lượng nghệ thuật không đảm bảo thì e rằng họ sẽ làm mất sự yêu quý đó trong lòng khán giả và sớm muộn sẽ bị đào thải.
Ngọc Huyền – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 29(81)1999

Khách sạn Công Đoàn Cà Mau phát huy truyền thống giai cấp tiên phong

Tuy là một doanh nghiệp hoạt động kinh doanh du lịch nhưng lại là một thành viên của Liên đoàn lao động tỉnh, sự trưởng thành của đơn vị chúng tôi trong kinh doanh không thể tách rời nhiệm vụ chính trị của công đoàn, qua đó chúng tôi luôn xác định rõ về nhiệm vụ của mình gắn liền với vai trò hiện tại tiến tới mục đích chung xây dựng đơn vị vững mạnh trong sạch bảo đảm an ninh, trật tự, xã hội, gìn giữ nét văn hóa bản sắc truyền thống dân tộc, đổi mới cải cách để tiến bộ. Đặc biệt hoàn thành nhiệm vụ trên giao trên tinh thần ý thức cao, thực hiện đúng chủ trương của Đảng và Nhà nước trong định hướng phát triển xây dựng du lịch bền vững của cả nước.
Được sự chỉ đạo của ban lãnh đạo Liên đoàn Lao động tỉnh Cà Mau cùng với sự hỗ trợ của các cấp quý ban ngành, đơn vị 6 tháng đầu năm đã đạt 64,6% chỉ tiêu kế hoạch trên giao. Lợi nhuận trước thuế thu nhập bằng 2 lần so với cùng kỳ năm ngoái.
Hiện nay khách sạn gồm 42 phòng luôn đạt công suất phòng từ 80 đến 85%. Nhà hàng 700 ghế, doanh thu cũng gấp 2 lần năm ngoái, đặc biệt lợi nhuận khâu tổ chức đám cưới đạt 90%.
Riêng về nghĩa vụ Nhà nước nộp đúng và vượt thời gian quy định, Công Đoàn củng cố hoạt động tốt hơn, mở lớp bồi dưỡng nâng cao trình độ nhận thức, thực hiện nghị định 0,7 của Chính phủ, dân chủ trong Doanh nghiệp, đào tạo một số nhân viên cao cấp chính trị – Đại học tài chính – Nghiệp vụ du lịch.
Phong trào thi đua liên tục được xét bình chọn khen thưởng hàng tháng.
Tham gia công tác xã hội – tương trợ bão lụt – xây dựng nhà tình nghĩa, giáo dục, mua công trái xây dựng kiến thiết đất nước.
Để mở rộng hoạt động kinh doanh, sắp tới chúng tôi sẽ mở rộng lầu thượng, xây dựng thêm 20 phòng ngủ, nâng cấp khách sạn tiên lên đạt tiêu chuẩn 1 sao. Vừa qua đã mua một máy phát điện 100KW. Từ những thành quả năm 98 khách sạn Công Đoàn Cà Mau chúng tôi đã được đón nhận Bằng khen của Tổng cục Du lịch, Bằng khen của tỉnh “hoàn thành kế hoạch toàn diện”, Bằng khen của Ban chấp hành Liên đoàn Lao động Việt Nam, Bằng khen “công nhận doanh nghiệp Văn hóa – Chi bộ vững mạnh của Sở Công an”.
Sở du lịch Hà Tây: tổ chức Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 1999 và triển khai các chương trình du lịch
Đúng ngày kỷ niệm 39 năm thành lập ngành Du lịch Việt Nam (9.7.1999) Sở Du lịch Hà Tây đã tổ chức Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 1999, bàn phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 1999, triển khai Pháp lệnh Du lịch, đề ra chương trình hành động của ngành du lịch Hà Tây về Du lịch năm 2000, đồng thời phát động thi đua chào mừng các ngày lễ lớn trong năm 1999 – 2000
Đến dự Hội nghị có Đồng chí Đặng Văn Tín, Phó Tổng cụ trưởng Tổng cục Du lịch, Đồng chí Đỗ Văn Toan, Phó Chủ tịch thường trực Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Tây, Trưởng ban chỉ đạo về Du lịch của tỉnh cùng đại diện Lãnh đạo Sở, Ban, ngành của tỉnh, huyện, các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn.
Qua 6 tháng đầu năm, toàn ngành du lịch Hà Tây đã thực hiện trên 70% các chỉ tiêu kế hoạch, phục vụ được 734.300 lượt khách, trong đó có 46.300 khách quốc tế, đạt tổng doanh thu 92 tỷ đồng, nộp ngân sách 4,6 tỷ. Tuy nhiên, yêu cầu, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm và những năm tiếp theo cũng đang đặt ra hết sức cấp thiết đối với ngành du lịch Hà Tây là: cần tập trung khai thác, thu hút khách mùa hè để đạt chỉ tiêu khách hàng đề ra; triển khai các dự án, hạng mục đã duyệt cho năm 2000, nhanh chóng đưa Khách sạn Sông Nhuệ vào sử dụng; đầu tư chiều sâu, mở rộng các tuyến điểm du lịch, tạo ra các sản phẩm đặc thù, hấp dẫn địa phương; nâng cao năng lực quản lý, trình độ nghiệp vụ chuyên môn nhằm hòa nhập với sự phát triển chung các địa phương trong cả nước.
Nhân Hội nghị này, Tổng cục Du lịch đã tặng cờ thi đua ngành năm 1998 cho Sở Du lịch Hà Tây, bằng khen cho Công ty Du lịch Sơn Tây, và 3 cá nhân là lãnh đạo Sở, giám đốc Sở Trịnh Xuân Chiểu, ngoài bằng khen của Tổng cục Du lịch còn được Ủy ban Nhân dân tỉnh tặng danh hiệu chiến sỹ thi đua cấp cơ sở.
T.T – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 29(81)1999

Trai Ngọc Việt Nam – Phần 3

Hiện nay ở Phú quốc đã có ba công ty được phép: Một là, Công ty liên doanh nuôi trai Việt Nhật (Kiên Giang), hai là, công ty trách nhiệm hữu hạn nuôi trai Phú Quốc của Công ty DVNTTSTW liên doanh với Úc; ba là, công ty Ogawa chi nhánh của liên doanh trai ngọc Hạ Long.
Giống trai ở đây khác với Quảng Ninh, gọi là con Đại trân châu (tên khoa học là Pteria Maxima), to gấp nhiều lần con Mã thị, cũng gọi là con Hầu bao ở Quảng Ninh; bình quân mỗi con nặng 1 kg, đột xuất có con tới 3 kg, đường kính vỏ trai từ 20 đến 25 cm, so với Mã thị chỉ 8 – 10 cm. Giống Maxima có thể cấy được từ 2 đến 3 viên mỗi con, cấy xong cho chúng vào các rọ lưới thép bọc sợi nilông và đem treo ở độ sâu 20 m, để chống mùa mưa nồng độ muối bị loãng, chúng có thể chết hàng loại. Từ lúc cấy đến lúc thu hoạch ngọc khoảng 1 đến 2 năm, nuôi càng lâu ngọc càng lớn. Mỗi con trai có thể sống từ 8 đến 10 năm và có thể từ 2 đến 3 viên ngọc với đường kính bình quân từ 10 đến 14 ly, cá biệt có hạt đạt đến 21 m, giá tới 20.000 USD / viên ! Theo các nhà chuyên môn về ngọc trai thì giá trị còn tùy theo hình dạng, màu sắc…Ngày nay người ta còn có thể bắt chúng tạo ra những viên hình ô van, hình bán cầu hay hình giọt nước để phù hợp cho mỗi thứ đồ trang sức. Còn nếu là ngọ trai đen thì đắt gấp nhiều lần vì rất hiếm.
Hiện nay nguồn trai giống nhiên liệu ở Phú Quốc còn dựa vào thiên nhiên. Nên có những người quê từ Quảng Ngãi vào tận Hòn Rõi để lập giàn buôn trai giống; chúng tôi đã đến mua ở một trong những giàn như thế của hai anh em ông Chín Cát – Bảy Liên. Mỗi giàn trai của các ông, tôi ước tính theo nút dây treo từng lồng, tính ra phải bốn đến năm ngàn con. Hàng ngày các ông bỏ vốn mua góp từng con của ngư dân Phú Quốc lặn bắt tận đáy biển sâu 40 – 50 m, rồi bắn lại cho các liên doanh, có ba loại giá 50 – 60 – 70 ngàn đồng /1 con trai giống. Những con các liên doanh không mua, nghĩa là không thích hợp tiêu chuẩn cấy ngọc thì dùng để ăn thịt và vỏ đem lên Sài Gòn bán cho các lò sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ chạm khảm với giá 120.000 đồng /1 kg.

Nguyễn Hà-Du lịch-Tổng cục Du lịch-Bộ VH-TT-DL-34(86)-1999

Trai Ngọc Việt Nam – Phần 2

Thật là một tiềm năng to lớn còn bỏ phí đã nhiều năm không khai thác !
Bởi vậy, còn đang buồn vì người ta người ta đã đổ của ra để thử nghiệm nuôi trai nước ngọt ở Hồ Tây (Hà Nội), ở sông Cầu (Bắc Giang) chỉ để thu về những viên ngọc màu hồng, méo mó, giá hai, ba ngàn đồng Việt Nam một viên ngọc, cũng rất ít người mua. Tháng 10 năm 1995, được tin ở vùng vịnh Hạ Long và Bái Tử Long, do liên doanh với Nhật, ta đã thành công. Con trai biển Việt Nam đã làm ra viên – ngọc – trai – thương – phẩm ! Thì… dù đã nghỉ hưu, tôi vẫn cứu lần mò, tự mua vé đi xe đò tới Quảng Ninh, để sung sướng tận mắt nhìn thấy hạt ngọc trai mong ước kia ! May mắn, gặp anh bạn trẻ Nguyễn Văn Thắng, phó giám đốc Công ty dịch vụ nuôi trồng thủy sản trung ương, đương kim phụ trách liên doanh nuôi trai cấy ngọc, đưa đi ba ngày thăm cơ sở các giàn nuôi trên biển. Một vùng biển lặng xưa kia, bây giờ đã có tới hai chục giàn nuôi. Mỗi giàn có mấy chục ngàn lồng. Mỗi lồng nuôi từ 30 đến 50 con trai biển, loài trai Mã Thị (Pteria Martensii). Những giàn trai ấy đã cho hiệu quả, mỗi năm thu hoạc hhàng trăm ngàn viên ngọc quí, màu ánh bạc, là màu đang được chuộng. Giá thương phẩm ngọc đã theo kịp giá thương trường quốc tế. Viên từ 7 đến 8 ly giá 20 đến 30 USD.
Trai ngọc là một sinh vật chẳng thứ gì không có ích. Vỏ của nó dùng để khảm xà cừ. Thịt là nguồn thực phẩm dinh dưỡng rất cao, chứa nhiều hoạt chất có yếu tố chữa rất nhiều thứ bệnh. Cái cơ của nó, tứa là hai miếng lườn thăn giữa sống lưng của hai cánh trai đóng mở, thịt vừa giòn vừa ngọt, lọc và sấy khô bán tới 300 USD/ kg. Buồn cười, đến cả những mảnh ngọc vụn li ti như hạt tấm (ở quá trình không phủ toàn viên dị thể rời xa), tôi cứ nghĩ chúng chẳng để làm gì, bốc lên tay một nắm để coi rồi định vứt đi, thì người quản lý kho vội kêu lên và giữ lấy tay tôi: “Chú ơi, 100 triệu đồng một kilô mảnh vụn ấy đây, để làm thuốc mà”
Tháng 4/ 1997, được tin Công ty quốc doanh đánh cá Kiên Giang đã thuyết phục được Bộ tư lệnh Hải quân (vì đây là hòn đảo có tính quốc phòng) cho phép, mở một liên doanh nữa với Nhật, để nuôi trai cấy ngọc tại đảo Phú Quốc.
Suốt một dải bờ tây phía nam của đảo dài 5 km đã được Bộ Quốc phòng khoanh cho công việc nuôi trai tới hàng ngàn héc ta mặt biển.

Nguyễn Hà-Du lịch-Tổng cục Du lịch-Bộ VH-TT-DL-34(86)-1999

Trai Ngọc Việt Nam – Phần 1

LTS: Nhà thơ, nhà báo Nguyễn Hà là cộng tác viên thân thiết của báo Tuần Du lịch, vừa mất ngày 14-8-1999 tại Hà Nội. Báo Tuần Du Lịch gửi lời chia buồn cùng gia quyến và trân trọng giới thiệu bài viết của ông gửi bạn đọc báo Tuần Du Lịch.
Quan niệm quốc tế, ngọc trai là tượng trưng cho vẻ đẹp, cho quyền lực và cho tình yêu, người ta đã mê mẩn chúng từ khi phát hiện ra ngọc bên trong con trai một cách tự nhiên từ lâu khoảng vài nghìn năm trước. Quan quân nhà Hán sang xâm chiếm nước ta, Thái thú Tô Định đã bắt hàng nghìn người dân ta lên rừng săn tê giác lấy sừng và xuống biển mò trai tìm ngọc tiến cống thiên triều. Tất nhiên, có hàng trăm mạng sống phải bỏ xác trên rừng và chìm sâu đáy nước. Dưới thời trị vì của nữ hoàng Anh quốc Elizabeth I (1558 – 1603) một nhà quí tộc người Anh, đã dám nghiền nhuyễn một viên ngọc trai trị giá 150.000 bảng thời bấy igờ, hòa vào rượu vang dâng lên cho nữ hoàng uống, để mong đem lại sức khỏe và may mắn cho bà.
Hạt ngọc tích tụ trong thân con trai, theo truyền thuyết là từ một vết thương lòng, rồi hình thành ngọc tự nhiên là rất hiếm. Cả trăm ngàn con mới có một con có ngọc. Nên từ năm 1880, một nhà buôn người Nhật tên là Kokichi mikimoto nghĩ ra cách cấy vật lạ vào thân con trai để tạo ngọc… Nhưng phải đến năm 1914, ông ta mới thành công, khi tìm ra bí quyết là phải đặt vật cấy vào nơi màng nhầy biểu mô của thân con trai, cùng với một mảnh tế bào tí xíu xả từ thân con trai đồng loại khác, thì chúng, mới chịu tiết ra chất xà cừ để làm nên viên ngọc. Thứ ấy gọi là “ngọc trai nhân tạo”, người không am hiểu thì coi là ngọc giả. Song điều kỳ diệu lại chính là ở chi tiết này đây. Bởi vì cái nhân lạ để cấy vào, đúng, nếu không thành ngọc, thì vẫn là cái hạt tròn tròn chế từ mảnh vỏ con trai. Nhưng khi thành ngọc thì đó lại là ngọc thật toàn thân, giống như viên ngọc tự nhiên mà có. Phải chăng, dù gọi là vật lạ, nhưng cũng vẫn chính “là xương là thịt” của cùng dòng giống chúng thôi mà ? Ai dám bảo loài trai là vô tri vô giác ? Chỉ vì nỗi xót thương đồng loại, mà đã âm thầm đau đớn, đùm bọc nuôi nấng hàng năm, để dâng hiến cho đời một sản phẩm tuyệt kỳ tuyệt thế !
Ngọc trai quí làm vậy, mà Việt Nam mình có bờ biển dài tới 3260 km, cộng với nhiều hải đảo có nhiều eo vịnh, thuộc vùng biển nước ấm, giống như miền tây bắc nước Úc, vùng Tahiti thuộc Thái Bình Dương (những nơi đang sản xuất ra nguồn ngọc trai rất lớn) nghĩa là thích hợp cho công việc nuôi trai cấy ngọc…
Nguyễn Hà-Du lịch-Tổng cục Du lịch-Bộ VH-TT-DL-34(86)-1999

Bạn có biết 10 ngân hàng lớn nhất thế giới hiện nay

Ngày 20/8/99, ba ngân hàng thương mại hàng đầu của Nhật Bản là lndustrial Bank of Japan (IBJ), Fuji Bank và Dai-lchi Kangyo Bank(DKB) thông báo sẽ hợp nhất để trở thành ngân hàng khổng lồ, lớn nhất trong lĩnh vực ngân hàng của toàn thế giới. Ngân hàng này sẽ chính thức đi vào hoạt động tự giữa năm tới với số vốn hoạt động chung là gần 1.300 tỷ USD.
Ba ngân hàng thành viên của ngân hàng cổ phần mới, đều là các ngân hàng lớn, có lịch sử phát triển lâu dài trong lĩnh vực này ở Nhật Bản.
IBJ được thành lập năm 1902, có đóng góp to lớn trong qua trình phát triển “thần kỳ” của nền kinh tế Nhật Bản sau chiến tranh thế giới lần thứ II. Hiện nay IBJ có các chi nhánh lớn hoạt động trong lĩnh vực buôn bán cổ phiếu như hãng chứng khoán Nomura. IBJ có 49 chi nhánh và sử dụng 4.752 lao động.
Fuji Bank được thành lập từ 1923 và hiện gắn chặt với tập đoàn Yasuda lớn của Nhật, trong đó có hãng xe ô tô Nissan. Fuji Bank đã đăng ký bán cổ phiếu tại thị trường chứng khoán Luân Đôn và Paris. Fuji Bank hiện có 340 chi nhánh và sử dụng 13.976 nhân viên.
DKB được thành lập trên cơ sở sáp nhập giữa Dai-Ichi Bank và Nippon Kangyo Bank từ năm 1971, hiện có 381 chi nhánh và 16.090 nhân viên. DKB có các mối liên kết hoạt động trong đầu tư với Fuji Bank và với JP Morgan andco của Mỹ.
Theo tờ Nihon keizai Shimbun của Nhật sau sự sáp nhập kể trên, 10 ngân hàng lớn nhất thế giới hiện nay là:
IBJ + DKB + Fuji 1.258,9 tỷ USD
Deutsche Bank AG (Đức) 865,2 –
BNP+Paribas (Pháp) 688,4 –
UBS Group (Thuỵ sĩ) 685,7 –
CitigroupInc (Mỹ) 667,9 –
Bank of Tokyo Mitsubishi Ltd (Nhật) 623,2 –
Bank of America Corp (Mỹ) 617,0 –
HSBC Holdings (Anh) 534,8 –
ABN Amro Bank (Hà Lan) 503,6 –
Credit Suisse Group (Thuỵ Sĩ) 473,2 –

Đồng 5 bảng mới ở Anh
Nhân kỷ niệm ngày sinh của Công nương Diana và kỷ niệm 2 năm ngày xảy ra tai nạn ô tô dưới đường hầm Eina-Paris làm tử nạn người đẹp, Hội đồng sản xuất tiền Hoàng gia đã cho phát hành đồng xu mệnh giá 5 Bảng. Một mặt của đồng xu in hình của công nương Diana – tác giả là hoạ sỹ David Kornell. Mặt kia, theo truyền thống in hình Nữ hoàng Elizabeth. Ngay từ khi phát hành đồng 5 Bảng mới khá nhiều khách du lịch nước ngoài đã bổ sung vào bộ sưu tập cá nhân của mình một vài đồng xu kỷ niệm công nương xứ Wales.
Người đàn ông 141 tuổi
Ông Oman Abas (ở giữa trong ảnh) 141 tuổi, đã được Bộ trưởng Y tế Malaysia tặng thưởng vì là người cao tuổi nhất còn sống ở quốc gia này.
Ông lão trên 100 tuổi này, người tuyên bố mình sinh ngày 26 tháng 9 năm 1857, sống ở Malacca với con trai Embong Omar (bên trái), 73 tuổi. Ông Omar đang chờ đợi một kỷ lục: Người nhiều tuổi nhất thế giới còn sống. Nếu tuyên bố của ông được thừa nhận, ông sẽ vượt qua phụ nữ người Pháp Jeanne Calment (ảnh nhỏ), người đã qua đời năm 1997 ở tuổi 122.
Anh Vũ – Tuần Du lịch – Số 38(90) 20 -27/9/1999